Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home/hord/public_html/hoianfestival.com/vi/index.php:2) in /home/hord/public_html/hoianfestival.com/vi/wp-includes/feed-rss2.php on line 8
Hoi An | Du Lich Hoi An | Thông tin du lịch Hội An » Cảnh sinh hoạt http://vi.hoianfestival.com Hoian Travel Website đăng tải tất cả những thông tin về sản xuất đèn lồng Hội An, Giới thiệu và bán Đèn Trung Thu , Den long Trung Thu, văn hóa du lịch mua sắm ở Hội An, hướng dẫn du khách tham quan du lịch tại Hội An Fri, 03 Feb 2012 04:15:36 +0000 http://wordpress.org/?v=2.9.2 en hourly 1 Giếng cổ Bá Lễ http://vi.hoianfestival.com/2009/12/gieng-co-ba-le/ http://vi.hoianfestival.com/2009/12/gieng-co-ba-le/#comments Sat, 19 Dec 2009 15:39:26 +0000 admin http://vi.hoianfestival.com/?p=1862 Giếng cổ Bá Lễ quanh năm nước trong xanh, ngon ngọt, không bao giờ cạn, là “gia bảo” của người dân Hội An và là điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Đã từ lâu lắm rồi, có những người dân Hội An sống đời với nghề gánh nước giếng cổ.
Lấy nước ở Giếng

Lấy nước ở Giếng

“Bí mật” quanh giếng cổ
Bên cạnh một số loại hình di tích như nhà cổ, đình, chùa, cầu, lăng, miếu, mộ… giếng cổ là một phần không thể thiếu của di sản văn hóa vật thể Hội An, góp phần tạo nên những nét đặc trưng riêng cho phố cổ.

Hầu hết các giếng cổ ở Hội An phân bố ở bờ bắc sông Đế Võng (thuộc thôn 5, thôn 6 xã Cẩm Thanh và khối 4, phường Thanh Hà). Vị trí các giếng này thông thường cách sông 50 – 150 m, nhiều giếng cách sông chỉ 5 -10 m.

Nếu như ở vùng ven, giếng nằm trong các nhà dân và phổ biến giếng hình tròn thì tại khu phố cổ xuất hiện nhiều giếng hình vuông hoặc trên tròn dưới vuông. Chúng nằm trong các di tích tín ngưỡng như: Hội quán, nhà thờ tộc, đình, miếu của người Hoa Minh Hương, Hoa Ngũ Bang.

Theo thống kê của TTBTDT Hội An, ở đây tồn tại 3 kiểu giếng cơ bản: Hình tròn (63%), hình vuông (17%), trên tròn dưới vuông (15%), số ít còn lại là các hình dạng khác.

Những giếng cổ ở Hội An có niên đại xây dựng không đồng nhất, hình thành ở nhiều thời điểm khác nhau. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, kiểu giếng vuông và trên tròn dưới vuông là giếng người Chăm, được xây dựng từ trước thế kỷ XV. Khi người Việt đến cư trú tiếp tục sử dụng nhằm phục vụ nhu cầu của mình. Số khác thì người Hoa và người Việt kế thừa kỹ thuật của người Chăm mà xây nên.

Tuy có nhiều kiểu dáng khác nhau, nhưng tất cả các giếng có chung đặc điểm trong xây dựng đó là có khung gỗ hình vuông (gỗ lim) ở dưới thành gạch, luôn ngập trong nước. Khung gỗ này giữ vai trò quan trọng đảm bảo tuổi thọ của giếng, giữ cho thành giếng ổn định lâu dài không bị sụt lún (vì thổ nhưỡng ở đây chủ yếu là đất cát). Thành giếng là những viên gạch được xếp chồng lên nhau, không có vữa kết dính tạo ra những khe hở cho nước trong lòng đất chảy vào giếng để duy trì mực nước của giếng luôn cao. Đặc biệt, trên các giếng này đều có các bàn thờ để thờ tự.

Ông Nguyễn Chí Trung, giám đốc TTBTDT Hội An cho rằng: “Đây là một yếu tố tâm linh của cư dân phố cổ. Họ quan niệm rằng mỗi chiếc giếng có một vị thần bảo hộ nên nguồn nước mới được trong mát quanh năm”.

Phu nước giếng cổ
Nước giếng cổ trong mát là “đặc sản” của phố cổ Hội An. Không những vậy, có thể coi nước giếng cổ là “đặc sản tạo nên những đặc sản”. Tuy nằm gần sông nước mặn như vậy, nhưng nguồn nước giếng cổ luôn mát ngọt tự nhiên, mực nước luôn cao và ổn định kể cả những ngày nắng hạn.

Bà Nguyễn Thị Sương (77 tuổi), sống cạnh giếng cổ Bá Lễ cho biết: Thời còn chiến tranh chống Pháp và Mỹ, những anh lính Tây khi đặt chân đến Hội An chỉ sử dụng nước giếng cổ để sinh hoạt. Họ thuê người dân chở nước về dùng. Nghề chở nước giếng thuê có lẽ bắt nguồn từ đó.

Có một điều thú vị là tất cả những đặc sản của phố cổ như Cao Lầu, Mỳ Quảng… đến những món ăn, đồ uống dân giã như cơm, cháo, cà phê, chè… đều sử dụng nước giếng cổ này để chế biến.

Du khách thăm Giếng trong lúc người dân đang lấy nước

Du khách thăm Giếng trong lúc người dân đang lấy nước


Anh Trần Trung Mẹo (47 tuổi, ở tổ 17, thôn Bến Trễ, xã Cẩm Hà, Hội An), người chở nước giếng thuê đã hơn 10 năm nay, cho biết: Trước đây anh làm bảo vệ cho khách sạn, sau thấy nghề chở nước giếng thuê ổn định, thu nhập khá nên chuyển qua làm từ đó đến nay.

Hằng ngày, anh đi làm từ lúc 5-6 giờ sáng, tối 7 giờ mới về nhà. Trung bình mỗi ngày anh chở 60-70 thùng (20 lít/thùng), tùy theo khoảng cách xa gần mà mỗi thùng tiền công người thuê trả cho anh từ 2 – 5 ngàn đồng. Tính ra, trừ chi phí xăng xe, mỗi ngày anh thu nhập không dưới 150.000 đồng.

Khách hàng của anh là chủ các nhà hàng, khách sạn và rất nhiều người dân. Đặc biệt những ngày nắng nóng hay nước máy bị nhiễm mặn thì anh “chạy sô” không xuể.

Không riêng gì gia đình anh Mẹo, giếng Bá Lễ và một số giếng cổ khác ở Hội An cũng là nguồn sống của hàng trăm hộ dân gánh nước thuê khác. Bà Dương Thị Thương (trú ở tổ 4, phường Cẩm Phổ) có 20 làm nghề gánh nước thuê, đến nay gia đình cũng khấm khá cũng nhờ vào nghề gánh nước này. Bà Thương kể, một số du khách thường xuyên đặt chân đến Hội An rất “sành” thưởng thức các món ăn được chế biến bằng nước giếng cổ. Do đó, có một số nhà hàng, khách sạn dùng nước máy đánh lừa du khách là nước giếng cổ liền bị họ phát hiện bỏ đi luôn.

Tuy có nhiều giếng cổ như vậy nhưng số phận của những chiếc giếng quý này không giống nhau. Hiện tại, có những cái đã bị hoang hóa, rêu phong. Giếng còn sử dụng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong số đó, giếng Xóm Cấm ở Cù Lao Chàm đã được xếp là di tích lịch sử quốc gia. Tuy nhiên, nổi tiếng nhất có lẽ là giếng cổ Bá Lễ (ở phường Minh An, TP Hội An).

Anh Mẹo cho biết, hiện tại chỉ còn 6 người thường xuyên chở nước giếng cổ và chỉ chở nước ở giếng Bá Lễ.

Trong đó, có gia đình đã truyền nghề 3 đời như gia đình ông Nguyễn Đường và bà Nguyễn Thị Mỹ, đã ngoài 70 tuổi (ở phường Minh An). Trước đây cả 2 vợ chồng ghánh thuê, giờ bà vợ yếu nên 2 cha con ông 2 đôi quang gánh hằng ngày vẫn trung thành với nghề.

Không có bài viết liên quan.

]]>
http://vi.hoianfestival.com/2009/12/gieng-co-ba-le/feed/ 0
Du lịch Hội An | Xem hát Bài Chòi http://vi.hoianfestival.com/2009/11/du-lich-hoi-an-xem-hat-bai-choi/ http://vi.hoianfestival.com/2009/11/du-lich-hoi-an-xem-hat-bai-choi/#comments Sat, 07 Nov 2009 15:13:30 +0000 admin http://vi.hoianfestival.com/?p=1735 Nếu bạn từng xem hội bài chòiHội An, sẽ thấy cảnh tượng nơi đây thật lạ, có ca sĩ, nhạc sĩ, có diễn viên, có sân khấu hẳn hoi, nhưng khán giả chẳng hề ngồi không thưởng thức như thường thấy.
Bài Chòi Hội An ngày Tết

Bài Chòi Hội An ngày Tết


Đám đông chung quanh không chỉ lắng nghe từng câu hát, mà chốc chốc lại thấy reo lên với những chiếc thẻ gỗ trên tay để rồi hớn hở đón nhận những chiếc cờ vàng từ tay các “anh thị vệ” của đoàn diễn. Những cụ già thì dường như chỉ biết đến lời ca và ngồi gõ nhịp phách say sưa cùng tiếng trống.


Phố cổ Hội An nhỏ lắm và cũng yên tĩnh lắm. Vọng đến tai hầu như chỉ thấy có tiếng cười, tiếng nói của những người khách du lịch.

Vậy mà bỗng dưng đêm nay, nơi cuối con phố lại bỗng rộn ràng những âm thanh của lời ca, tiếng trống hòa trong giai điệu lả lướt của chiếc đàn nhị. Dường như toàn bộ cư dân của khu phố cổ đang tập trung tại sân chơi cũng nho nhỏ và ngập đầy sắc màu vàng xuộm hắt ra từ những chiếc đèn “măng-xông hiện đại” này. Đây là đêm hội bài chòi thường được tổ chức vào tối thứ bảy hằng tuần tại khu phố cổ Hội An.

Đêm hội bài chòi hiện nay đã trở thành một sân chơi quen thuộc của người dân Hội An. Cứ vào tối các ngày thứ bảy, mọi người lại tụ tập về khoảng sân giữa phố Hội và sông Hoài (hay còn gọi là sông Bạch Đằng) để được có những giờ phút thư giãn một cách đầy hứng khởi cho kỳ nghỉ cuối tuần. Chính sân chơi này đã đem lại chút không khí sôi nổi giúp khu phố cổ thêm phần sinh động mà vẫn không hề làm mất đi vẻ đẹp yên bình rất đặc trưng của Hội An. Vì rằng, đêm hội bài chòi vừa mang hơi thở nóng hổi của cuộc sống hiện đại, vừa chứa đựng vẻ dịu dàng, duyên dáng của một nét văn hóa truyền thống đầy ý nghĩa.

Không ai biết chính xác hội bài chòi xuất hiện vào thời điểm nào. Tuy nhiên, từ khoảng 300 – 400 năm trước đây, loại hình vui chơi này đã được tổ chức thường xuyên ở các tỉnh Thừa Thiên – Huế vào những dịp lễ hội ngày xuân. Sau đó, bởi nhiều lý do nên hội bài chòi không còn phổ biến được như trước, thậm chí là đứng trước nguy cơ “thất truyền”. Cho đến khi khu phố cổ Hội An được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, Trung tâm văn hóa thể thao Hội An đã quyết định khôi phục lại sân chơi văn hóa này tại đây, vừa để bảo tồn, vừa để quảng bá một nét văn hóa đặc sắc của dân tộc tới khách du lịch cả trong và ngoài nước.

Có thể hiểu nôm na rằng hội bài chòi là sân chơi của những ván cờ. Mỗi ván gồm có 30 quân cờ với 30 tên gọi khác nhau chia thành 10 loại thẻ gỗ (3 quân cờ là một thẻ) và người chơi sẽ được chọn mua các loại thẻ đó. Sau khi “nhà cái” phát hết thẻ cho mọi người, ván cờ sẽ được bắt đầu bằng việc rút thăm que tre có ghi tên một quân cờ. Lúc này, anh “hiệu” (người hô) sẽ dẫn dắt cuộc chơi bằng những câu hát có liên quan đến tên quân cờ ghi trên chiếc thăm đó, lần lượt cho đến khi ba thẻ tre được rút liên tiếp có tên gọi trùng với các tên quân cờ ghi trên cùng một thẻ gỗ…

Khi tham gia, nếu thấy tên quân cờ của mình được nhắc đến trong câu hát, người chơi sẽ phải hô lên và trình thẻ gỗ để được phát một lá cờ vàng, tương đương với một phần thưởng nhỏ. Nếu người chơi có được chiếc thẻ gỗ ghi tên 3 quân cờ được nêu tên liên tục, người đó sẽ đoạt được phần thưởng lớn nhất của cuộc chơi và ván cờ kết thúc… Nhiều người có thể cho rằng hình thức vui chơi này có vẻ dễ dàng và đơn giản, dựa vào sự may rủi là chính. Nhưng thực ra, ý nghĩa và cách thức chơi hội bài chòi không hẳn vậy. Và thực tế đây là một hoạt động văn hóa đáng được tôn trọng và giữ gìn.

Bài Chòi Hội An ngày Tết

Bài Chòi Hội An ngày Tết


Thuở ban đầu, luật chơi hội bài chòi khá nghiêm khắc. Tên quân cờ sẽ không được nhắc đến trực tiếp trong mỗi câu hát mà người nghe sẽ phải tự suy đoán lấy. Thí dụ, nếu tên quân cờ là chữ “nghèo”, người hô sẽ hát một số câu có nội dung nói về chữ nghèo, người nghe tự suy luận ra và giơ thẻ của mình lên để nhận cờ vàng. Người nào không đoán được sẽ mất cơ hội được nhận phần thưởng.
Tuy nhiên, nhiều người hiện giờ chưa theo được luật chơi này, bởi vậy, nhiều khi người hô đã sử dụng các câu hát gọi trực tiếp tên quân cờ để người chơi dễ theo dõi. Dù đã có đôi chút biến đổi song hội bài chòi vẫn giữ được đặc thù riêng của mình: là một loại hình sinh hoạt văn hóa lý thú và bổ ích.
Có thể khẳng định như vậy là bởi nội dung các câu hát sử dụng trong hội bài chòi đều mang ý nghĩa nhân văn và có tính giáo dục cao (nét khác biệt căn bản để có thể phân biệt hội bài chòi với các trò cờ bạc khác). Các câu hát được sử dụng ở đây thường nói về tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi tình phụ mẫu, tình phu thê, đề cao những đức tính, phẩm chất tốt đẹp của con người, phê phán những tệ nạn xã hội, những tập tục lỗi thời, lạc hậu…

Vì vậy, hình thức vui chơi này không chỉ có ý nghĩa giải trí đơn thuần. Đồng thời, còn có thể coi hội bài chòi chính là một sân khấu trình diễn của làn điệu dân ca đặc trưng khu nam (Nam Trung Bộ).Phần thưởng dành cho người thắng cuộc trong hội bài chòi thực ra không lớn và không mang giá trị vật chất. Thông thường, cuối mỗi cuộc vui, người thắng cuộc sẽ được nhận một chiếc đèn lồng, “đặc sản” của Hội An. Song, điều quan trọng nhất đối với người chơi hiện nay là ở chỗ họ đã có được một sân chơi văn hóa sôi nổi và đặc biệt lôi cuốn.

Trò chời bài chòi thường tổ chức ở một khoảng đất rộng hình chữ nhật, trên đó người ta dựng 10 chiếc chòi cao quá đầu người ở chung quanh, mặt quay vào giữa, bằng tre lá đơn sơ, dành cho những người tham dự cuộc chơi, mỗi người ngồi trong một chòi. Bộ bài chòi gồm 30 lá bài, dài bảy phân rưỡi và hai phân rưỡi bề ngang, trên có vẽ hình ảnh.

Trước khi bắt đầu, người tham dự đóng một khoản tiền tuỳ theo qui định và bài được chia cho mỗi người ba lá. Riêng người “hô” bài chòi – gọi là anh hiệu – giữ nguyên một bộ bài.

Để mở đầu, anh hiệu thường rao trước vài câu thơ chẳng hạn như:

Gió Xuân phảng phất ngọn tre
Hai bên cô bác lắng nghe bài chòi

Khi mọi người đã yên vị, anh bắt đầu rút từng lá bài và hô to bằng những câu thơ lục bát. Thí dụ như khi rút ra lá bài “nhứt trò” (có hình một người học trò) thì anh cất tiếng ngâm nga:

“Đi đâu cắp sách đi hoài
Cử nhân chẳng thấy tú tài cũng không”

Ai có lá bài này thì đánh vào chiếc mõ treo trong chòi, anh hiệu cho người đem lá “nhứt trò” đến giao và người đó đã có được một đôi. Chòi nào có được ba đôi trước thì thắng cuộc.

Thú chơi bài chòi không quan trọng chuyện được thua mà thú vị ở chỗ thưởng thức những câu hô trầm bổng, nhịp nhàng, du dương như nghe đọc thơ. Anh hiệu giỏi thường sáng tác ra nhiều câu thơ lục bát rất hay (câu thài) và lại khéo léo hô một cách chậm rãi khiến cho người nghe hồi hộp chờ đợi rồi đoán già đoán non đó là con bài gì.

Chính vì vậy xưa kia nhiều người nhờ tài hô bài chòi duyên dáng mà được nổi tiếng khắp làng, thậm chí khắp vùng.

Bài chòi là trò chơi xuân mang đậm tính tập thể và tính dân gian. Một ván bài có khi kéo dài cả tiếng đồng hồ. Tuy trong cuộc chơi có ăn tiền, nhưng cái chính là đề mua vui, để người chơi thả trí tưởng tượng và hy vọng của mình dựa theo lời diễn xướng của anh hiệu, mong tìm sự hên xui đầu xuân.

Một số câu thai trong hát bài chòi:

Ai đi ngoài ngõ ào ào
Hay là ông tượng đạp rào ổng vô.
(Tứ tượng)


Bậu khoe giỏi, sao chẳng chịu đi thi
Cứ ăn xó bếp, ngủ thì chuồng trâu
Bậu ơi ! Tôi chẳng ưng đâu,
Trạng gì như thế, có hầu cũng uổng công
(Lục trạng)

Biết rằng ai có mong ai
Sao trời lại nở rẽ hai thế này
Có sao Hôm mà chẳng có sao Mai
Hai đàng hai đứa, tình phai, hoa tàn
(Bánh hai)

Bước vô nhà xin cất tiếng hỏi thăm
Cớ sao giọt lụy ướt đầm gối loan
(Chín gối)

Chầu rày đà có trăng non
Để tôi lên xuống có con em bồng
(Bát bòng)

Chiều chiều vác cuốc đào lươn
Bùn trơn, lươn trợt, người thương đâu rồi
(Ngũ trợt)

Chồng nằm chính giữa
Hai vợ hai bên
Lấy chiếu đắp lên
Hô là ba bụng
(Ba bụng)

Còn duyên, làm cách làm kiêu
Hết duyên bí thối, bầu thiu ai thèm
(Nhì bí)

Còn duyên mua thị bán hồng
Hết duyên buôn mít cho chồng gặm xơ
Gặm xơ, rồi lại gặm cùi
Còn ba, bảy hột để lùi cho con
(Bảy hột)

Còn đâu nay thiếp, mai chàng
Ghe lui khỏi bến, dấu dầm nằm đây
(Sáu ghe)

Đang ngồi bực lỡ thả câu
Chẳng may rớt xuống vực sâu cái ầm
(ông ầm)

Đầu rồng, đuôi phụng, cánh tiên
Ngày năm bảy vợ, tối ngủ riêng một mình
(ba gà)

Đêm nằm gối gấm không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em
(Chín gối)

Đi đâu mang sách đi hoài
Cứ nhân không thấy, tú tài cũng không
(Nhứt trò)

Đò em đưa rước bộ hành
Thuyền nan một chiếc tử sanh trọn bề
Trải qua bãi hạc, gành nghê
Quanh năm chèo chống, tư bề sóng xô
Tiếng ai văng vẳng gọi đò
Mau mau nhổ nọc, chèo qua đón người
(Nhứt nọc)

Đôi ta như đũa mới so
Không chọn mà gặp, không đo mà đều
Phải duyên, đã quyết thì liều
Cầm bằng con trẻ chơi điều đứt dây.
(Tám dây)

Đời bây giờ, võ nghệ huyên thuyên,
Không ai gióng được ngọn quyền cho thông.
(Tứ gióng)

Em thương anh, cha mẹ cũng phải theo
Chiếc ghe buồm đang chạy, quăng neo cũng phải ngừng.
(Tam quăng)

Hai tay bụm cát đáp mồ,
Tay bồng con dại, nước mắt hồ láng lai.
(Bát bồng)

Làm thân con gái chẳng lo,
Sáng mai ngủ dậy, ra đo mặt trời,
Quần áo thì rách tả tơi,
Lấy rơm mà túm, mỗi nơi mỗi đùm.
(Ngũ trưa)

Lòng thương chị bán thịt heo,
Hai vai gánh nặng còn đèo móc cân.
(Tứ móc)

Một, anh để em ra,
Hai, anh để em ra,
Về em buôn, em bán
Em trả nợ bánh tráng,
Em trả nợ bánh xèo.
Còn dư, trả nợ thịt heo.
Anh đừng cầm em nữa,
Kẻo mang nghèo vào thân.
(Nhì nghèo)

Một chàng, hai thiếp khó phân,
Anh về nghĩ lại đề cầm cân cho bằng.
(Ba bụng)

Một, hai bậu nói rằng không,
Dấu chân ai đứng bờ sông hai người ?
(Tứ cẳng)

Nam mô, hai chữ từ bi,
Phật còn mê gái, huống chi thầy chùa.
(Cửu chùa)

Ngày thường thiếu áo thiếu cơm,
Đêm nằm không chiếu, lấy rơm làm giường.
Dù dơi, dép bướm, chật đường,
Màn loan, gối phượng, ai thương kẻ nghèo ?
(Nhì nghèo)

Ngó lên hòn núi Chóp Vung,
Thấy bảy cô gái cùng chung một nhà.
(Thất vung)

Ngồi buồn nghĩ giận quân Tây,
Đem thân đi lính, xe dây buộc mình.
Phương trời, góc bể lênh đênh,
Biết người xưa có thấu tình cho chăng ?
(Tám dây)

Ơn cha nghĩa mẹ chưa đền,
Như gà quẹt mỏ, chẳng nên con người.
(Ba gà)

Rủ nhau đi đánh bài chòi
Để Cho con khóc đến lòi rún ra.
(Chín rún)

Tay cầm quyển sách bìa vàng,
Sách bao nhiêu chữ, thương nàng bấy nhiêu
(Nhứt trò)

Tay em đã trắng lại tròn
Không cho anh gối, sao mòn một bên.
(Chín gối)

Cứu con vua Thủy một mình dưới hang.
(Thái tử)

Thấy nàng, anh cũng muốn thương .
Sợ e “nhất mã lưỡng cương” (l) khó cầm.
(Bánh ba)

Thuyền ai thấp thoáng bên bờ,
Hay thuyền ông Lữ đợi chờ con vua ?
(Thái tử)

Tiếc công bỏ mẳn nuôi cu,
CU ăn, cu ]ớn, cù gù, cu bay.
Cu say mũ cả, áo dài,

Cu chê nhà khó, phụ hoài duyên anh.
(Chín cu)

Tới đây, giã gạo, ăn chè,
Ai mà không giã, ngồi hè trật ăn.
(Ngũ trật)

Trời mưa lộp độp sân đình,
Anh đi cho khéo, trợt uỳnh xuống đây.
(Chín trợt)

Vợ đôi chồng một ra gì,
Mỗi người mỗi bụng, ở thì sao nên.
(Ba bụng)

Xét ra cho kỹ sự đời
Ba người, ba bụng, không ai thời giống ai.
(Ba bụng)

Xưa kia ai biết ai đâu,
Bởi chưng miếng thuốc, miếng trầu nên thương.
Vì tình mà dạ vấn vương.
Bốn phương, tám hướng, nàng nương miếu nào ?
(Tám miếu)

Không có bài viết liên quan.

]]>
http://vi.hoianfestival.com/2009/11/du-lich-hoi-an-xem-hat-bai-choi/feed/ 0