“Bí mật” quanh giếng cổ
Bên cạnh một số loại hình di tích như nhà cổ, đình, chùa, cầu, lăng, miếu, mộ… giếng cổ là một phần không thể thiếu của di sản văn hóa vật thể Hội An, góp phần tạo nên những nét đặc trưng riêng cho phố cổ.
Hầu hết các giếng cổ ở Hội An phân bố ở bờ bắc sông Đế Võng (thuộc thôn 5, thôn 6 xã Cẩm Thanh và khối 4, phường Thanh Hà). Vị trí các giếng này thông thường cách sông 50 – 150 m, nhiều giếng cách sông chỉ 5 -10 m.
Nếu như ở vùng ven, giếng nằm trong các nhà dân và phổ biến giếng hình tròn thì tại khu phố cổ xuất hiện nhiều giếng hình vuông hoặc trên tròn dưới vuông. Chúng nằm trong các di tích tín ngưỡng như: Hội quán, nhà thờ tộc, đình, miếu của người Hoa Minh Hương, Hoa Ngũ Bang.
Theo thống kê của TTBTDT Hội An, ở đây tồn tại 3 kiểu giếng cơ bản: Hình tròn (63%), hình vuông (17%), trên tròn dưới vuông (15%), số ít còn lại là các hình dạng khác.
Những giếng cổ ở Hội An có niên đại xây dựng không đồng nhất, hình thành ở nhiều thời điểm khác nhau. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, kiểu giếng vuông và trên tròn dưới vuông là giếng người Chăm, được xây dựng từ trước thế kỷ XV. Khi người Việt đến cư trú tiếp tục sử dụng nhằm phục vụ nhu cầu của mình. Số khác thì người Hoa và người Việt kế thừa kỹ thuật của người Chăm mà xây nên.
Tuy có nhiều kiểu dáng khác nhau, nhưng tất cả các giếng có chung đặc điểm trong xây dựng đó là có khung gỗ hình vuông (gỗ lim) ở dưới thành gạch, luôn ngập trong nước. Khung gỗ này giữ vai trò quan trọng đảm bảo tuổi thọ của giếng, giữ cho thành giếng ổn định lâu dài không bị sụt lún (vì thổ nhưỡng ở đây chủ yếu là đất cát). Thành giếng là những viên gạch được xếp chồng lên nhau, không có vữa kết dính tạo ra những khe hở cho nước trong lòng đất chảy vào giếng để duy trì mực nước của giếng luôn cao. Đặc biệt, trên các giếng này đều có các bàn thờ để thờ tự.
Ông Nguyễn Chí Trung, giám đốc TTBTDT Hội An cho rằng: “Đây là một yếu tố tâm linh của cư dân phố cổ. Họ quan niệm rằng mỗi chiếc giếng có một vị thần bảo hộ nên nguồn nước mới được trong mát quanh năm”.
Phu nước giếng cổ
Nước giếng cổ trong mát là “đặc sản” của phố cổ Hội An. Không những vậy, có thể coi nước giếng cổ là “đặc sản tạo nên những đặc sản”. Tuy nằm gần sông nước mặn như vậy, nhưng nguồn nước giếng cổ luôn mát ngọt tự nhiên, mực nước luôn cao và ổn định kể cả những ngày nắng hạn.
Bà Nguyễn Thị Sương (77 tuổi), sống cạnh giếng cổ Bá Lễ cho biết: Thời còn chiến tranh chống Pháp và Mỹ, những anh lính Tây khi đặt chân đến Hội An chỉ sử dụng nước giếng cổ để sinh hoạt. Họ thuê người dân chở nước về dùng. Nghề chở nước giếng thuê có lẽ bắt nguồn từ đó.
Có một điều thú vị là tất cả những đặc sản của phố cổ như Cao Lầu, Mỳ Quảng… đến những món ăn, đồ uống dân giã như cơm, cháo, cà phê, chè… đều sử dụng nước giếng cổ này để chế biến.
Hằng ngày, anh đi làm từ lúc 5-6 giờ sáng, tối 7 giờ mới về nhà. Trung bình mỗi ngày anh chở 60-70 thùng (20 lít/thùng), tùy theo khoảng cách xa gần mà mỗi thùng tiền công người thuê trả cho anh từ 2 – 5 ngàn đồng. Tính ra, trừ chi phí xăng xe, mỗi ngày anh thu nhập không dưới 150.000 đồng.
Khách hàng của anh là chủ các nhà hàng, khách sạn và rất nhiều người dân. Đặc biệt những ngày nắng nóng hay nước máy bị nhiễm mặn thì anh “chạy sô” không xuể.
Không riêng gì gia đình anh Mẹo, giếng Bá Lễ và một số giếng cổ khác ở Hội An cũng là nguồn sống của hàng trăm hộ dân gánh nước thuê khác. Bà Dương Thị Thương (trú ở tổ 4, phường Cẩm Phổ) có 20 làm nghề gánh nước thuê, đến nay gia đình cũng khấm khá cũng nhờ vào nghề gánh nước này. Bà Thương kể, một số du khách thường xuyên đặt chân đến Hội An rất “sành” thưởng thức các món ăn được chế biến bằng nước giếng cổ. Do đó, có một số nhà hàng, khách sạn dùng nước máy đánh lừa du khách là nước giếng cổ liền bị họ phát hiện bỏ đi luôn.
Tuy có nhiều giếng cổ như vậy nhưng số phận của những chiếc giếng quý này không giống nhau. Hiện tại, có những cái đã bị hoang hóa, rêu phong. Giếng còn sử dụng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong số đó, giếng Xóm Cấm ở Cù Lao Chàm đã được xếp là di tích lịch sử quốc gia. Tuy nhiên, nổi tiếng nhất có lẽ là giếng cổ Bá Lễ (ở phường Minh An, TP Hội An).
Anh Mẹo cho biết, hiện tại chỉ còn 6 người thường xuyên chở nước giếng cổ và chỉ chở nước ở giếng Bá Lễ.
Trong đó, có gia đình đã truyền nghề 3 đời như gia đình ông Nguyễn Đường và bà Nguyễn Thị Mỹ, đã ngoài 70 tuổi (ở phường Minh An). Trước đây cả 2 vợ chồng ghánh thuê, giờ bà vợ yếu nên 2 cha con ông 2 đôi quang gánh hằng ngày vẫn trung thành với nghề.
Không có bài viết liên quan.
]]>Có một thời, gốm Chu Đậu trở thành một thứ hàng hiệu cao cấp được các thương gia và người tiêu dùng trên thế giới đều muốn được sở hữu. Thông qua con đường buôn bán, sản phẩm của làng gốm Chu Đậu có mặt khắp nơi trên thế giới, từ Ai Cập, Trung Cận Đông đến Đông Nam Á và rất nhiều ở Nhật Bản. Đến nay đã có 46 bảo tàng của các nước trên thế giới trưng bày hiện vật gốm Chu Đậu. Riêng tại Nhật Bản có 20 bảo tàng sưu tập đồ gốm Việt Nam, những món đồ quý nhất phần lớn thuộc về Bảo tàng Mỹ thuật Fukuoka và Bảo tàng Gốm sứ Kyushu. Tại các bảo tàng này có các cổ vật thuộc các dòng gốm Việt Nam thời Bắc thuộc, tiêu biểu là gốm xanh trắng và gốm màu Chu Đậu. Phần lớn những hiện vật ở đây đều tuyệt hảo và toàn bích, do các bảo tàng này mua được trong những cuộc bán đấu giá cổ vật ở Nhật Bản, châu Âu và châu Mỹ, hoặc do các nhà sưu tập hảo tâm hiến tặng. Cần lưu ý rằng vào thời điểm này, con tàu đắm Cù Lao Chàm chưa được khai quật, đồ gốm Chu Đậu chưa được biết đến nhiều như sau này. Vì thế, điều mà các bảo tàng ở Nhật Bản có được món đồ Chu Đậu toàn bích từ dáng kiểu đến men màu thể hiện tầm nhìn đáng khâm phục của các nhà sưu tầm đồ cổ và các nhà bảo tàng học ở xứ Phù Tang.
Nhiều bảo tàng trên thế giới và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đang sở hữu, bảo quản, trưng bày phát huy giá trị hiện vật độc bản gốm Chu Đậu. Theo kế hoạch, trong năm 2010, kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam sẽ phối hợp với các bảo tàng địa phương như Lâm Đồng, Quảng Nam trưng bày hình ảnh, hiện vật lịch sử, trong đó có những hiện vật độc đáo của gốm Chu Đậu thu được từ con tàu đắm Cù Lao Chàm.
Related posts:
Phố cổ Hội An nhỏ lắm và cũng yên tĩnh lắm. Vọng đến tai hầu như chỉ thấy có tiếng cười, tiếng nói của những người khách du lịch.
Vậy mà bỗng dưng đêm nay, nơi cuối con phố lại bỗng rộn ràng những âm thanh của lời ca, tiếng trống hòa trong giai điệu lả lướt của chiếc đàn nhị. Dường như toàn bộ cư dân của khu phố cổ đang tập trung tại sân chơi cũng nho nhỏ và ngập đầy sắc màu vàng xuộm hắt ra từ những chiếc đèn “măng-xông hiện đại” này. Đây là đêm hội bài chòi thường được tổ chức vào tối thứ bảy hằng tuần tại khu phố cổ Hội An.
Đêm hội bài chòi hiện nay đã trở thành một sân chơi quen thuộc của người dân Hội An. Cứ vào tối các ngày thứ bảy, mọi người lại tụ tập về khoảng sân giữa phố Hội và sông Hoài (hay còn gọi là sông Bạch Đằng) để được có những giờ phút thư giãn một cách đầy hứng khởi cho kỳ nghỉ cuối tuần. Chính sân chơi này đã đem lại chút không khí sôi nổi giúp khu phố cổ thêm phần sinh động mà vẫn không hề làm mất đi vẻ đẹp yên bình rất đặc trưng của Hội An. Vì rằng, đêm hội bài chòi vừa mang hơi thở nóng hổi của cuộc sống hiện đại, vừa chứa đựng vẻ dịu dàng, duyên dáng của một nét văn hóa truyền thống đầy ý nghĩa.
Không ai biết chính xác hội bài chòi xuất hiện vào thời điểm nào. Tuy nhiên, từ khoảng 300 – 400 năm trước đây, loại hình vui chơi này đã được tổ chức thường xuyên ở các tỉnh Thừa Thiên – Huế vào những dịp lễ hội ngày xuân. Sau đó, bởi nhiều lý do nên hội bài chòi không còn phổ biến được như trước, thậm chí là đứng trước nguy cơ “thất truyền”. Cho đến khi khu phố cổ Hội An được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, Trung tâm văn hóa thể thao Hội An đã quyết định khôi phục lại sân chơi văn hóa này tại đây, vừa để bảo tồn, vừa để quảng bá một nét văn hóa đặc sắc của dân tộc tới khách du lịch cả trong và ngoài nước.
Có thể hiểu nôm na rằng hội bài chòi là sân chơi của những ván cờ. Mỗi ván gồm có 30 quân cờ với 30 tên gọi khác nhau chia thành 10 loại thẻ gỗ (3 quân cờ là một thẻ) và người chơi sẽ được chọn mua các loại thẻ đó. Sau khi “nhà cái” phát hết thẻ cho mọi người, ván cờ sẽ được bắt đầu bằng việc rút thăm que tre có ghi tên một quân cờ. Lúc này, anh “hiệu” (người hô) sẽ dẫn dắt cuộc chơi bằng những câu hát có liên quan đến tên quân cờ ghi trên chiếc thăm đó, lần lượt cho đến khi ba thẻ tre được rút liên tiếp có tên gọi trùng với các tên quân cờ ghi trên cùng một thẻ gỗ…
Khi tham gia, nếu thấy tên quân cờ của mình được nhắc đến trong câu hát, người chơi sẽ phải hô lên và trình thẻ gỗ để được phát một lá cờ vàng, tương đương với một phần thưởng nhỏ. Nếu người chơi có được chiếc thẻ gỗ ghi tên 3 quân cờ được nêu tên liên tục, người đó sẽ đoạt được phần thưởng lớn nhất của cuộc chơi và ván cờ kết thúc… Nhiều người có thể cho rằng hình thức vui chơi này có vẻ dễ dàng và đơn giản, dựa vào sự may rủi là chính. Nhưng thực ra, ý nghĩa và cách thức chơi hội bài chòi không hẳn vậy. Và thực tế đây là một hoạt động văn hóa đáng được tôn trọng và giữ gìn.
Vì vậy, hình thức vui chơi này không chỉ có ý nghĩa giải trí đơn thuần. Đồng thời, còn có thể coi hội bài chòi chính là một sân khấu trình diễn của làn điệu dân ca đặc trưng khu nam (Nam Trung Bộ).Phần thưởng dành cho người thắng cuộc trong hội bài chòi thực ra không lớn và không mang giá trị vật chất. Thông thường, cuối mỗi cuộc vui, người thắng cuộc sẽ được nhận một chiếc đèn lồng, “đặc sản” của Hội An. Song, điều quan trọng nhất đối với người chơi hiện nay là ở chỗ họ đã có được một sân chơi văn hóa sôi nổi và đặc biệt lôi cuốn.
Trò chời bài chòi thường tổ chức ở một khoảng đất rộng hình chữ nhật, trên đó người ta dựng 10 chiếc chòi cao quá đầu người ở chung quanh, mặt quay vào giữa, bằng tre lá đơn sơ, dành cho những người tham dự cuộc chơi, mỗi người ngồi trong một chòi. Bộ bài chòi gồm 30 lá bài, dài bảy phân rưỡi và hai phân rưỡi bề ngang, trên có vẽ hình ảnh.
Trước khi bắt đầu, người tham dự đóng một khoản tiền tuỳ theo qui định và bài được chia cho mỗi người ba lá. Riêng người “hô” bài chòi – gọi là anh hiệu – giữ nguyên một bộ bài.
Để mở đầu, anh hiệu thường rao trước vài câu thơ chẳng hạn như:
Gió Xuân phảng phất ngọn tre
Hai bên cô bác lắng nghe bài chòi
Khi mọi người đã yên vị, anh bắt đầu rút từng lá bài và hô to bằng những câu thơ lục bát. Thí dụ như khi rút ra lá bài “nhứt trò” (có hình một người học trò) thì anh cất tiếng ngâm nga:
“Đi đâu cắp sách đi hoài
Cử nhân chẳng thấy tú tài cũng không”
Ai có lá bài này thì đánh vào chiếc mõ treo trong chòi, anh hiệu cho người đem lá “nhứt trò” đến giao và người đó đã có được một đôi. Chòi nào có được ba đôi trước thì thắng cuộc.
Thú chơi bài chòi không quan trọng chuyện được thua mà thú vị ở chỗ thưởng thức những câu hô trầm bổng, nhịp nhàng, du dương như nghe đọc thơ. Anh hiệu giỏi thường sáng tác ra nhiều câu thơ lục bát rất hay (câu thài) và lại khéo léo hô một cách chậm rãi khiến cho người nghe hồi hộp chờ đợi rồi đoán già đoán non đó là con bài gì.
Chính vì vậy xưa kia nhiều người nhờ tài hô bài chòi duyên dáng mà được nổi tiếng khắp làng, thậm chí khắp vùng.
Bài chòi là trò chơi xuân mang đậm tính tập thể và tính dân gian. Một ván bài có khi kéo dài cả tiếng đồng hồ. Tuy trong cuộc chơi có ăn tiền, nhưng cái chính là đề mua vui, để người chơi thả trí tưởng tượng và hy vọng của mình dựa theo lời diễn xướng của anh hiệu, mong tìm sự hên xui đầu xuân.
Một số câu thai trong hát bài chòi:
Ai đi ngoài ngõ ào ào
Hay là ông tượng đạp rào ổng vô.
(Tứ tượng)
Bậu khoe giỏi, sao chẳng chịu đi thi
Cứ ăn xó bếp, ngủ thì chuồng trâu
Bậu ơi ! Tôi chẳng ưng đâu,
Trạng gì như thế, có hầu cũng uổng công
(Lục trạng)
Biết rằng ai có mong ai
Sao trời lại nở rẽ hai thế này
Có sao Hôm mà chẳng có sao Mai
Hai đàng hai đứa, tình phai, hoa tàn
(Bánh hai)
Bước vô nhà xin cất tiếng hỏi thăm
Cớ sao giọt lụy ướt đầm gối loan
(Chín gối)
Chầu rày đà có trăng non
Để tôi lên xuống có con em bồng
(Bát bòng)
Chiều chiều vác cuốc đào lươn
Bùn trơn, lươn trợt, người thương đâu rồi
(Ngũ trợt)
Chồng nằm chính giữa
Hai vợ hai bên
Lấy chiếu đắp lên
Hô là ba bụng
(Ba bụng)
Còn duyên, làm cách làm kiêu
Hết duyên bí thối, bầu thiu ai thèm
(Nhì bí)
Còn duyên mua thị bán hồng
Hết duyên buôn mít cho chồng gặm xơ
Gặm xơ, rồi lại gặm cùi
Còn ba, bảy hột để lùi cho con
(Bảy hột)
Còn đâu nay thiếp, mai chàng
Ghe lui khỏi bến, dấu dầm nằm đây
(Sáu ghe)
Đang ngồi bực lỡ thả câu
Chẳng may rớt xuống vực sâu cái ầm
(ông ầm)
Đầu rồng, đuôi phụng, cánh tiên
Ngày năm bảy vợ, tối ngủ riêng một mình
(ba gà)
Đêm nằm gối gấm không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em
(Chín gối)
Đi đâu mang sách đi hoài
Cứ nhân không thấy, tú tài cũng không
(Nhứt trò)
Đò em đưa rước bộ hành
Thuyền nan một chiếc tử sanh trọn bề
Trải qua bãi hạc, gành nghê
Quanh năm chèo chống, tư bề sóng xô
Tiếng ai văng vẳng gọi đò
Mau mau nhổ nọc, chèo qua đón người
(Nhứt nọc)
Đôi ta như đũa mới so
Không chọn mà gặp, không đo mà đều
Phải duyên, đã quyết thì liều
Cầm bằng con trẻ chơi điều đứt dây.
(Tám dây)
Đời bây giờ, võ nghệ huyên thuyên,
Không ai gióng được ngọn quyền cho thông.
(Tứ gióng)
Em thương anh, cha mẹ cũng phải theo
Chiếc ghe buồm đang chạy, quăng neo cũng phải ngừng.
(Tam quăng)
Hai tay bụm cát đáp mồ,
Tay bồng con dại, nước mắt hồ láng lai.
(Bát bồng)
Làm thân con gái chẳng lo,
Sáng mai ngủ dậy, ra đo mặt trời,
Quần áo thì rách tả tơi,
Lấy rơm mà túm, mỗi nơi mỗi đùm.
(Ngũ trưa)
Lòng thương chị bán thịt heo,
Hai vai gánh nặng còn đèo móc cân.
(Tứ móc)
Một, anh để em ra,
Hai, anh để em ra,
Về em buôn, em bán
Em trả nợ bánh tráng,
Em trả nợ bánh xèo.
Còn dư, trả nợ thịt heo.
Anh đừng cầm em nữa,
Kẻo mang nghèo vào thân.
(Nhì nghèo)
Một chàng, hai thiếp khó phân,
Anh về nghĩ lại đề cầm cân cho bằng.
(Ba bụng)
Một, hai bậu nói rằng không,
Dấu chân ai đứng bờ sông hai người ?
(Tứ cẳng)
Nam mô, hai chữ từ bi,
Phật còn mê gái, huống chi thầy chùa.
(Cửu chùa)
Ngày thường thiếu áo thiếu cơm,
Đêm nằm không chiếu, lấy rơm làm giường.
Dù dơi, dép bướm, chật đường,
Màn loan, gối phượng, ai thương kẻ nghèo ?
(Nhì nghèo)
Ngó lên hòn núi Chóp Vung,
Thấy bảy cô gái cùng chung một nhà.
(Thất vung)
Ngồi buồn nghĩ giận quân Tây,
Đem thân đi lính, xe dây buộc mình.
Phương trời, góc bể lênh đênh,
Biết người xưa có thấu tình cho chăng ?
(Tám dây)
Ơn cha nghĩa mẹ chưa đền,
Như gà quẹt mỏ, chẳng nên con người.
(Ba gà)
Rủ nhau đi đánh bài chòi
Để Cho con khóc đến lòi rún ra.
(Chín rún)
Tay cầm quyển sách bìa vàng,
Sách bao nhiêu chữ, thương nàng bấy nhiêu
(Nhứt trò)
Tay em đã trắng lại tròn
Không cho anh gối, sao mòn một bên.
(Chín gối)
Cứu con vua Thủy một mình dưới hang.
(Thái tử)
Thấy nàng, anh cũng muốn thương .
Sợ e “nhất mã lưỡng cương” (l) khó cầm.
(Bánh ba)
Thuyền ai thấp thoáng bên bờ,
Hay thuyền ông Lữ đợi chờ con vua ?
(Thái tử)
Tiếc công bỏ mẳn nuôi cu,
CU ăn, cu ]ớn, cù gù, cu bay.
Cu say mũ cả, áo dài,
Cu chê nhà khó, phụ hoài duyên anh.
(Chín cu)
Tới đây, giã gạo, ăn chè,
Ai mà không giã, ngồi hè trật ăn.
(Ngũ trật)
Trời mưa lộp độp sân đình,
Anh đi cho khéo, trợt uỳnh xuống đây.
(Chín trợt)
Vợ đôi chồng một ra gì,
Mỗi người mỗi bụng, ở thì sao nên.
(Ba bụng)
Xét ra cho kỹ sự đời
Ba người, ba bụng, không ai thời giống ai.
(Ba bụng)
Xưa kia ai biết ai đâu,
Bởi chưng miếng thuốc, miếng trầu nên thương.
Vì tình mà dạ vấn vương.
Bốn phương, tám hướng, nàng nương miếu nào ?
(Tám miếu)
Không có bài viết liên quan.
]]>
Ao thuyền - nơi tránh bão của tàu thuyền tại Cù Lao Chàm
Trong bài thơ Lục nga, Kinh Thi có câu: “Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao” (nghĩa là: Thương xót thay cha mẹ, sinh ta khó nhọc). Trong truyện Kiều, Nguyễn Du đắn đo hai chữ “hiếu trọng” và “tình thân” đã hạ bút viết: “Duyên hội ngộ, đức cù lao/ Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn?”.
Ấy là chữ cù lao vốn là từ Hán – Việt mang nghĩa: cha mẹ siêng năng, khó nhọc để nuôi dưỡng con.
Theo Từ điển Từ cổ của Vương Lộc (NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học, 2002), cù lao được giải nghĩa: cái quai trên đầu quả chuông (“cù lao có hiệu hoa kình ở trên” – Chỉ Nam ngọc ân giải nghĩa; “Bây giờ tính nghĩ làm sao/ Cho chuông ấm tiếng cù lao vững vàng” – ca dao.
Còn một từ cù lao khác là danh từ được hiểu theo nghĩa: là phần đất hoặc là núi nổi lên giữa biển như cù lao Cỏ (thuộc tỉnh Quảng Trị), cù lao Chàm (thuộc tỉnh Quảng Nam), cù lao Ré (tức đảo Lý Sơn, thuộc tỉnh Quảng Ngãi)… – giống như từ “đảo”. Ở miền Tây Nam Bộ, cù lao nổi lên giữa sông nước, kiểu như vùng đất Gò Nổi ở Quảng Nam.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí viết: “… cách huyện Diên Phước 68 dặm về phía Đông, ngất ngưởng giữa biển gọi là đảo Ngoạ Long, cũng gọi là hòn Cù Lao, có tên nữa là Tiêm Bút, tên cổ là Chiêm Bất Lao; dân phường Tân Hợp ở phía Nam núi; ruộng đất trên núi có thể cày cấy, thuyền bè nước ta thường trông núi này làm chừng đi về đều đỗ ở đấy để lấy củi nước…”.
Thật thú vị khi chúng tôi có thời gian điền dã dài ngày tại xã đảo Tân Hiệp và đã sưu tầm được tại đây nhiều câu ca ngắn gọn mà có ý nghĩa khái quát rất cao, chân chất như tấm lòng bình dị của người dân vùng này. Xin được chép lại câu ca sau đây:
“Ra Lao đốn Lụi thật Dài
Chờ Mồ Khô Lá, xuống Tai chực Nờm”
Lao, Lụi, Dài, Mồ, Khô, Tai, Lá là 7 hòn đảo tại đây; trong đó Lao là hòn đảo lớn nhất, có dân cư; còn các đảo khác tuỳ theo hình dáng và thảm thực vật mà đặt tên cho dễ phân biệt, Khô có hai đảo là Khô Mẹ và Khô Con; Nờm là bãi nằm ở phía Nam bán đảo Sơn Trà thuộc Đà Nẵng.
Xin được trao đổi về nghĩa của từ “cù lao”.
Phan Thanh Minh (Đài Phát thanh – Truyền hình Quảng Nam) – Theo Lao Động online
Dưới đây là bài viết của một độc giả chia sẻ về từ Cù Lao
Trước hết xin nói về chữ cù lao hiểu theo nghĩa địa lý. Hầu như các từ điển chúng ta có đều đồng nhất cù lao với đảo, có thể kể “Từ điển tiếng Việt” của Hội Ngôn ngữ cho đảo là: Khoảng đất lớn có nước bao quanh ở sông, hồ, biển hoặc đại dương, còn cù lao thì ghi rất gọn là (ph): đảo.
Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (Nhà XB Văn hoá Thông tin) thì ghi như sau: Đảo: Khoảng đất đá lớn nổi lên giữa sông biển (từ đảo trở về đất liền – trang 594). Còn về cù lao, từ điển trên ghi năm nghĩa và nghĩa đầu tiên (ghi cũng rất gọn một từ duy nhất), cù lao = đảo, cù lao Chàm.
Tra “Từ điển Việt Pháp” Nguyễn Lân, ta có về cù lao = le, lot. Và danh từ đảo thì được dịch là le. Từ điển Hán Việt (Đào Duy Anh) cũng định nghĩa đảo = cù lao, miếng đất nổi lên giữa biển (le). Từ điển Việt Hoa Pháp của G.Huệ về cù lao thì ghi: le au milieu de la mer (đảo giữa biển), và đảo cũng ghi rất gọn một từ là le.
Việt Nam tự điển Khai trí tiến đức thì ghi: Cù lao: Cái núi con nổi ở giữa bể. Đảo = cù lao nổi ở bể. Nhưng rành mạch nhất là định nghĩa lot của GS Nguyễn Lân: Très pêtit le (đảo rất nhỏ – Larousse), và nhất là cuốn “Từ điển phương ngữ Tiếng Việt” của Đặng Thanh Hoà, khi nói về cù lao: Đảo nhỏ hoặc vùng đất bồi lớn nổi giữa vùng sông nước (Nam): Cù lao Chàm. Chừng nào cho sóng bỏ gành/ Cù lao bỏ biển, anh mới đành bỏ em. (Ca dao).
Từ những dẫn chứng trên, ta đã rõ cù lao là đảo nhỏ và là phương ngữ miền Nam.
Một ý nữa cũng cần nói cho rõ là về “Cù lao Chàm”, hầu như tất cả các sách của ta (Từ điển Nguyễn Như ý, Từ điển Phương ngữ Đặng Thanh Hoà, “Sổ tay địa danh Việt Nam” của nhà địa lý học Nguyễn Dược) đều gọi Cù lao Chàm là cù lao chứ không phải quần đảo, như “Từ điển Văn hoá cổ truyền Việt Nam” (trang 170) đã gọi là Cù lao Chàm là một quần đảo.
Nguyên văn câu đó như sau: “Cù lao Chàm là quần đảo nằm cách bán đảo Sơn Trà khoảng 60 cây số (mặc dù Cù lao Chàm có 3 ngọn núi cao: Ngọc Long, Tiêm Bút và Bất Lao)“.
Cũng thuộc Quảng Nam như Cù lao Chàm, ta có Hoàng Sa (mà người Pháp gọi là Paracels), thì Hoàng Sa mới là một quần đảo (như Trường Sa, Côn Lôn… chẳng hạn). Về mặt khoa học rất nên phân biệt rõ. Cù lao: lot/ Đảo: le/Bán đảo” Presqu’ le (péninsule)/ Quần đảo: Archipel/ Băng đảo: ceberg (danh từ chung).
Nguyễn Văn Điện – từ Lao Động Online
Related posts:
Related posts:
“Nhưng mà cậu hỏi tuổi của tôi để làm chi chứ? Nhiều người cứ nói Hội An 500 tuổi, rồi 400 tuổi, sai hết. Di sản làm gì có tuổi? Tôi cũng cổ như Hội An đây. Có điều tôi chưa được công nhận là di sản thôi!”.
Múc xong chén chè cho một người mẹ trẻ, ông ngước nhìn tôi, thật hóm: ” Còn hỏi chi nữa không?”. “Dạ thưa, có người gọi bác là “ông lão xí mà”. Sao lại là xí mà hả bác?”. Ông cười. Còn đúng hai chiếc răng. “Riêng cái tên nớ thì đúng. Xí mà là thứ mà nãy giờ cậu ăn đấy. Chỉ nên biết rứa thôi. Đi giải cho được cái chữ “xí mà” ấy, khác nào đi tìm lời giải cho câu hỏi “sông Hoài có từ hồi mô?”.
Thấy tôi lớ ngớ trước cái kiểu trả lời úp úp mở mởấy, ông lão dấn tới luôn: “Còn trẻ mà chậm hiểu hè?”. Hai từ “còn trẻ” được ông kéo ra thật dài. Tôi thật bối rối trước sự đáo để của ông lão. Bụng bảo dạ: “Gặp đúng thứ thiệt Quảng Nam rồi đây”.
Mỗi ngày một gánh
Những ai từng sống ở Hội An 5-10 năm trước, chắc sẽ không quên hình ảnh này: Đúng 6 giờ sáng mỗi ngày, bất luận trời mưa hay nắng, trên các con đường của khu phố cổ, có một cụ già, gánh trên vai đôi thùng thiếc đen xỉn vì ám khói, bước những bước thật chậm rãi, không một tiếng rao, chốc chốc dừng lại để bán hàng cho khách. Đó là “ông lão xí mà”.
Đôi thùng thiếc ấy, một đầu dùng để đựng chè xí mà, đầu kia đựng chén và nước rửa, treo toòng teng nơi mút đòn gánh là chiếc bi đông đựng nước uống. Cứ hết phố này, ông sang phố khác, chậm rãi bước, lặng lẽ bán, mỗi ngày một gánh chè, đúng 60 năm. Người dân Hội An hình như đã quá quen ông lão, trẻ con cũng đã thuộc lòng giờ giấc của những bước chân chậm rãi nơi ông nên chẳng cần nghe tiếng rao, chúng cũng biết là sắp nhận được món quà độc đáo từ ông, giá đúng một ngàn.
Mỗi ngày một gánh, 60 năm là bao nhiêu gánh chè? Mỗi ngày đi qua 20 con phố, dài 10 ngàn mét, 60 năm qua, ông đã đi bộ bằng chiều dài của mấy vòng trái đất này? “Làm răng mà tôi tính cho được? Cậu nhìn vào chiếc đòn gánh kia thì biết!”. Tôi nhìn vào nơi ông chỉ. Đó không còn là chiếc đòn gánh đơn thuần nữa. Thời gian và mồ hôi của chủ nhân đã kịp dát lên đoạn tre già vô tri kia những nhọc nhằn đen bóng. Hai năm qua, khi đã sang tuổi 90, sức khỏe đã không cho phép bước chân ông lão gõ những nhịp guốc mộc quen thuộc trên các con phố cổ nữa, ông lại chọn cho mình một chỗ ngồi khá yên tĩnh trên đường Nguyễn Trường Tộ.
Vẫn mỗi ngày một gánh và bán hết trong một buổi sáng. Nếu như ngày trước, ông tìm đến khách hàng bằng những bước chân chậm rãi ấy, thì bây giờ, người Hội An lại tìm đến ông. Chốc chốc, một chiếc xe đạp dừng lại trước gánh chè. Chủ cũng không màng hỏi khách là mua bao nhiêu mà chỉ nhìn mặt rồi… múc chè cho vào túi nilon!
Tôi hỏi: “Làm sao bác biết chịấy mua bao nhiêu mà bán những hai túi?”. Ông lại đưa chiếc quạt nan lên phe phẩy: “Ba năm trước, cô nớ chỉ mua một túi. Chừ mua hai túi. Biết răng không?”. Tôi lắc đầu. Ông lão nhìn về phía người mua chè: “Đứa nhỏ một tuổi rồi phải không?”. Người đàn bà gật đầu thân thiện.
Ông lão nhìn sang tôi: “Cô ấy có đứa con thứ hai. Hai đứa phải mua hai túi. Một túi để nó đánh nhau à?”. Chị Thư – người mua chè, xác nhận: “Ông thuộc lòng từng khách một ấy mà. Hội An ni, ai ông chả biết”.
Tôi hỏi chị Thư: “Có khi nào chị mua chè chỗ khác?”. Chị nhìn tôi ngạc nhiên: “Biết mua loại chè ni chỗ mô nữa? Ở Hội An, hồi mô đến chừ, tui chỉ thấy có mỗi ông lão này là bán chè xí mà thôi. Một gánh duy nhứt, không có gánh thứ hai. Đứa trẻ mô được ăn chè của ông một lần, lần sau chớ có đổi món. Ngày mô tui cũng phải mua cho mỗi đứa con một túi”.
Cổ như phố cổ
Cứ xong một lượt khách, ông lại ngồi bất động như một thiền sư. Nếu không trò chuyện cùng ông từ trước, nhìn cái dáng ngồi ấy, chắc là tôi chẳng dám đến gần. Khuôn mặt ông phảng phất một vẻ liêu trai khó tả. Cái sương khói huyền hồ như lẫn vào đôi quang gánh, như nhập vào bộ xiêm y nơi ông. Nhìn kỹ hơn một chút nữa, tôi chợt nhận ra rằng ông đã “nhập” vào Hội An tự bao giờ không biết.
Ông “lạ” từ bộ quần áo nâu sồng may theo kiểu Tàu, đến đôi quang gánh, cả cái thứ nước chè ông mời khách cũng quá đỗi cổ xưa. Ông cẩn thận cho chè vào túi nilon, lần bàn tay nhăn nheo xuống dưới đáy chiếc thúng cũ rồi lấy ra một sợi dây lác, buộc thật chặt miệng túi, trước khi trao cho khách. Những ai ăn chè tại chỗ, ông múc ra một chiếc bát nhỏ, cẩn thận đến mức không rơi một giọt. Xong, ông lão rửa bát bằng một thứ nước rất lạ, có mùi thơm hăng hắc, mà theo cách giải thích của ông là “đừng có hỏi!”.
Khi khách mua chè đã vãn, ông bắt đầu mang tiền ra sắp xếp theo mệnh giá. Tuổi ngoài 90 rồi mà mắt còn tinh lắm. Ông tỉ mẩn cho những đồng có mệnh giá lớn hơn (cao nhất là tờ 10 nghìn) vào túi áo trên, dùng kim băng ghim lại thật chặt; còn số tiền lẻ, ông cho vào túi dưới. Ông bảo: “Để thối lại cho dễ”. Tôi ước chừng khoảng một trăm nghìn. Thế là ông lão đã thắng, ít nhất cũng kiếm được năm chục. Gần “bách niên” rồi mà ngày kiếm năm chục từ sức lao động của mình, trai tráng như tôi cũng xin bái phục.
Tôi vờ thử tài ông: “Cụ nhầm tờ 500 cho lẫn với tờ 10 nghìn kìa!”. Ông nghiêm mặt: “Đừng giỡn với lão nghe! Hơn 60 năm bán chè, lão chưa nhầm một cắc!”. Tôi tái mặt!
Người “giải mã” những bí ẩn
Định tiếp tục cuộc trò chuyện đến khi nào “moi” cho được tên ông thì thôi nhưng tôi biết, có ngồi tàn đêm đi nữa thì người thua cuộc cũng vẫn là tôi. Vừa giận, lại vừa nể ông lão.
Đang lúc bí, một người bạn ở Hội An mách cho đường đến nhà ông. Luồn sâu trong một con hẻm nhỏ trên đường Trần Hưng Đạo, tôi tiếp cận được ngôi nhà. Ra mở cổng đón khách là một cụ bà nhỏ nhắn và xởi lởi. Khác với cái cách úp úp mở mở của cụ ông, cụ bà đi thẳng vào cái mà tôi cần: “Ông tên là Ngô Thiểu, người gốc Hội An. Còn tôi quê Điện Bàn. Tôi với ông ấy gặp nhau trên 60 năm nay, mười lần sinh nhưng còn có 4 người. Tất cả đều thành đạt. Tất cả đều nhờ vào… gánh chè của ông ấy để lớn lên và học hành. Và, cũng tất cả đều không theo “nghề” của cha mẹ. Ba giờ sáng đã thức dậy rồi, thanh niên bây chừ, chịu không nổi mô!”.
Ngừng một lát, bà cụ tiếp: “Xí mà là tên gọi của người Tàu dùng để chỉ loại chè lấy mè (vừng) đen làm nguyên liệu. Cậu hỏi lai lịch của gánh chèấy à? Chuyện dài lắm. Ngày mới lấy ông, cha mẹ hai bên đều nghèo nên chẳng giúp được gì. Con cái thì cứ sòn sòn hai năm đôi. Tôi phải gánh cá chuồn tên tận thượng nguồn Thu Bồn đổi gạo nhưng vẫn cứ thiếu trước hụt sau. Một đêm, đang giữa khuya, ông bùng dậy và nói như người mộng du: “Tui nhớ ra rồi, mẹ nó ơi!”. Gặng hỏi mãi ông chẳng nói gì, chỉ thấy sáng sớm hôm sau, ông xăm xúi ra chợ mua mè đen, rau má, bồ ngót, đường bát và một cái xoong thật to rồi nhóm bếp. Gánh chè ra đời từ đó. Chẳng phải ông tự nghĩ ra đâu mà lúc nhỏ, ông ấy có đi làm công cho một gia đình người Hoa ở Hội An này và học được nghề nấu chè xí mà từ gia đình người Hoa nọ”.
Cũng theo bà cụ, sở dĩ món “xí mà” đã mê hoặc nhiều người không chỉ vì mùi vị của rau ngót, rau má hay mè đen, đường bát mà còn có một thứ khác. Bà bảo: “Ba giờ sáng đã dậy để đãi mè, lặt rau, giã thật nhuyễn rồi lấy nước cốt cho vào nồi chè. Có một điều bí mật nơi ông mà tôi không được biết. Đó là khi gánh chè chuẩn bị “lên đường”, ông móc trong túi ra cho vào nồi chè một loại thuốc bắc nào đó mà chỉ có ông mới biết mà thôi”.
Nghe cụ bà nói thế, tôi lại nghĩ vẩn vơ: Ông này cũng giống Hội An đây, vừa cụ thể, gần gũi nhưng cũng hết sức bí ẩn. Một người bạn của tôi đầy vẻ tự hào khi nói rằng ở Hội An quê anh, mỗi người dân đều giữ một phần di sản. Theo cách nghĩ của anh bạn thì cụ Ngô Thiểu , dù ở tuổi 90 nhưng vẫn gánh cái di-sản-xí-mà trên vai mỗi ngày vậy.
Xíu Mà là món ăn có nguồn gốc từ Phúc Kiến (Trung Quốc), du nhập vào Hội An (Quảng Nam) trong những năm đầu của thế kỷ trước, khi những người Hoa đến buôn bán kinh doanh. Đây là món ăn ngoài tác dụng điểm tâm thanh cảnh, còn là một bài thuốc chữa các bệnh về tiêu hóa, giải nhiệt, chống cảm nắng, suy nhược cơ thể…
Xíu Mà được làm rất công phu từ bột gạo nếp hương, nhân dừa xay nhuyễn, vừng (mè), đậu xanh, đường tinh luyện và thanh địa thuốc bắc. Khi nấu chín, Xíu Mà có màu đen sánh, mùi thơm lan tỏa.
Ở Hội An, bao năm qua cứ vào mỗi buổi sáng tại góc đường Nguyễn Trường Tộ, mọi người đều thấy một ông cụ đầu đội chiếc nón rộng vành ngồi múc từng chén Xíu Mà bán cho người dân và du khách. Đó chính là già Ngô Thiểu nổi tiếng làm Xíu Mà ở Hội An, giờ đây đã trở thành thương hiệu “Xíu Mà Ngô Thiểu”. Ông cho biết, xưa nay ở Hội An cũng có vài nhà làm Xíu Mà nhưng do nhiều lý do mà dần bị mai một thất truyền. Hơn 75 năm trước, ông đã được chứng kiến cách làm Xíu Mà từ ông nội và cha mẹ của mình. Những năm trước đây, khi còn khỏe và phải lo nhiều cho cuộc sống, già Ngô Thiểu dậy từ rất sớm để làm Xíu Mà rồi gồng gánh 2 nồi lớn đi rao bán quanh Hội An đến quá trưa mới về tới nhà. Mệt lả, nhưng ông rất vui vì đã bán được hết hàng và có những lời khen, lời dặn ngày mai lại đến từ những khách hàng. Nay đã ngoài 90 tuổi, trông ông vẫn rất khỏe khoắn. Tuy không gánh hàng đi rao bán như xưa, ông chỉ ngồi một chỗ cố định trên đường vào trung tâm phố cổ Hội An (Quảng Nam) mà người dân đến ăn và mua về vẫn rất đông đúc.
Related posts:
Từ năm 2004, những thông tin cá nhân về Lê Ngọc Thiệp như số điện thoại, cá tính, khả năng hướng dẫn du khách… đã được Le guide du routard (tên tiếng Việt: Bạn đường) bất ngờ chọn giới thiệu để hướng dẫn du khách sử dụng tiếng Pháp khi đến Việt Nam. Mỗi năm, bản giới thiệu này có sự bổ sung, kể cả… thêm bớt ở lời bình phẩm của người biên soạn. Năm 2008, Le guide du routard giới thiệu ở trang 359: “Ông Lê Ngọc Thiệp, cựu hướng dẫn viên của Văn phòng hướng dẫn tham quan đô thị cổ Hội An. Người đàn ông uyên bác và rất lịch sự. Một mình ông có thể thuộc làu về Hội An. Ông có thể hướng dẫn cho bạn bằng tiếng Pháp trong vài giờ chứ không thể quá lâu vì lý do tuổi cao. Hãy điện thoại cho ông ấy nếu bạn có ý định du lịch đến thành phố cổ này để đăng ký và thảo luận về phí làm việc. Hội An là thành phố văn hóa được nhiều người nói tiếng Pháp lui tới. Người ta gặp ở đó những người nói tiếng Pháp như ông chủ Càphê Des Amis hay ông Lê Ngọc Thiệp ở nhà cổ Phùng Hưng”.
Chẵn 80 tuổi, ông Lê Ngọc Thiệp giờ như một “thương hiệu” ở thành phố di sản Hội An. Ông trở nên nổi bật giữa hàng trăm hướng dẫn viên khác không phải bởi tuổi tác, mà là ở tính chuyên nghiệp và niềm đam mê. Ngoài phương pháp “thính thị” (nghe và thấy), ông già Thiệp có tiếng là người chịu khó tìm hiểu về di tích trước khi trải lòng ra với du khách. Trên các ngả đường lang thang, ông kể với du khách những câu chuyện về rêu xanh trên mái tường nhà cổ, về những ngõ hẻm gắn với hồn phố đã trải hàng trăm năm ở vùng hạ lưu Thu Bồn…
Tôi theo ông leo lên cầu thang gỗ ở nhà cổ Phùng Hưng. Buổi trưa cuối tháng 3, góc phố ở đường Nguyễn Thị Minh Khai nơi ông đang làm việc nắng gay gắt và khá tĩnh lặng. Nhưng bên trong là một không khí khác, nhộn nhịp và đầy tiếng ồn. Ông già 80 tuổi như lọt thỏm giữa nhóm du khách cao lớn, thoắt cái đã thấy ông gọn gàng tháo rời tấm cửa gỗ hay thư thả ngồi uống trà cùng họ… Cuối buổi, ông mới nhìn sang phía tôi, nheo mắt: “Thường những du khách già có cảm tình với hướng dẫn viên lớn tuổi. Có lẽ vì họ tin rằng người già ở địa phương sẽ hiểu biết nhiều hơn. Ông bà mình cũng có câu Ra đường hỏi người già, về nhà hỏi con nít” đó thôi. Hèn gì rất nhiều du khách khi bước qua bậc thềm vào nhà cổ Phùng Hưng (số 4 Nguyễn Thị Minh Khai) đều thấy cầm theo “cẩm nang” Le guide du routard.
Nhưng tôi biết, ở ông còn có nhiều bí quyết khác. Như tấm bản đồ về những di tích Chăm do ông tự vẽ lấy được phát cho du khách trước lúc lên đường tham quan thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) và cả những di tích Chăm dọc miền Trung. Sự tỉ mỉ, chu đáo ấy khiến du khách không khỏi ngạc nhiên và khâm phục.
Người bạn đường già hoài cổ
Ông Lê Ngọc Thiệp trở thành người bạn đường già của đô thị cổ Hội An một cách đầy duyên nợ. Sinh ra ở Điện Hồng (huyện Điện Bàn), đến năm 1964, gia đình ông mới dắt díu nhau về phố Hội. Ông dạy tiếng Pháp nhiều năm ở một trường tiểu học, năm 1985 nghỉ mất sức. Mười năm sau, khi Hội An mở văn phòng hướng dẫn tham quan, ông bắt đầu cuộc lang thang mới trên cương vị tổ trưởng tổ hướng dẫn tiếng Pháp. Chừng 10 năm sau nữa, ông thôi làm hướng dẫn viên do lớn tuổi, về mở lớp dạy tiếng Pháp tại nhà riêng cho các nhân viên lễ tân của các khách sạn, hướng dẫn viên và cả… trẻ em trong xóm. Cũng ngồi yên được chừng 2 năm, được ông chủ đời thứ 7 của nhà cổ Phùng Hưng mời làm hướng dẫn viên du lịch cho du khách nói tiếng Pháp, ông già Thiệp lại đi.
Lịch làm việc dày đặc, sáng dạy tiếng Pháp từ 6 – 7 giờ 15 rồi lên nhà cổ Phùng Hưng làm việc, tối lại dạy từ 19 – 20 giờ 30. Ít người biết đấy là một thầy giáo kỹ tính đến mức khó chịu. Học trò của ông bây giờ nhiều lứa tuổi và công việc khác nhau, nhưng mỗi tối ông vẫn… chấm bài bằng mực đỏ! Khi đọc đến đoạn “người đàn ông uyên bác và rất lịch sự” ở cuốn sách xuất bản năm 2008, Lê Ngọc Thiệp xua tay khiêm tốn: “Họ viết hơi thái quá!”. Nhưng Olivier Page, người trực tiếp giới thiệu, đã có lý do riêng. Ngay trên trang đầu cuốn Le guide du routard in năm 2009 mà NXB Hachette vừa gửi biếu, Olivier Page cũng viết vài dòng rất thân thiện: “Chúng tôi biết ơn về cuộc đón tiếp nồng nhiệt của ông”.
Cũng trong bản in năm 2009, Le guide du routard bổ sung thêm một đoạn khá đặc biệt ở trang 364: “Bạn cũng có thể tìm gặp ông ở cầu Nhật Bản. Các bạn đừng lo lắng, ông ta từ chối nói về phí hướng dẫn. Hãy đại lượng với ông ấy…”. Năm sau, nếu Le guide du routard còn muốn giới thiệu về ông, một vài chi tiết có lẽ cần thay đổi, ít nhất là điện thoại 0510-86-31-68 phải thêm số 3 ngay sau mã số vùng 0510. Hoặc nữa, ông Thiệp vừa tiết lộ phải đến tháng 9 năm nay mới thôi việc tại nhà cổ Phùng Hưng, nên dòng chữ “bạn có thể tìm gặp ông ở cầu Nhật Bản” viết từ đầu năm xem ra có phần… việt vị. Mà tất cả cũng chỉ là dự đoán, bởi chưa có dấu hiệu nào cho thấy ông già 80 tuổi ấy dừng lại. “Ông cụ tôi lạ lắm, hễ dừng làm việc là… ốm” – con gái ông Thiệp tâm sự.
Bây giờ, nếu bạn tìm đến đô thị cổ, gặp một ông già gầy gò đi trên chiếc xe đạp cũ và nói giỏi tiếng Pháp, đích thị đấy là Lê Ngọc Thiệp. Bạn không biết đâu, chiếc xe đạp ấy được ông già sử dụng từ hơn nửa thế kỷ. Cả chiếc đồng hồ đeo tay sắm từ thời Pháp thuộc, ông cũng lưu luyến không muốn đổi. Ông ấy hoài cổ không chỉ với những lời thuyết minh về phố Hội…
TN Online – Hứa Xuyên Huỳnh
Không có bài viết liên quan.
]]>Rằm tháng giêng (Thượng nguyên), rằm tháng bảy (Trung nguyên) là hai thời điểm chuyển tiếp giữa mùa mưa và mùa khô. Cuộc sống lạc hậu, thiếu vệ sinh ở thôn quê xưa cộng với tác động của thiên nhiên sau khô hanh, lũ lụt thường có bệnh dịch hoành hành, lây lan cả vùng. Vì vậy tất cả cư dân trong cộng đồng đều có trách nhiệm tham gia cúng Long Chu. Chức sắc trong làng và các tộc trưởng cử ra một ban chánh tế và mời thầy phù thủy chủ trì. Họ quyên góp trong dân và xuất quĩ thuê thợ mã làm Long Chu, số khác che rạp, bày hương án tại đình làng, ấp. Không khí náo nức, vui vẻ, mọi lứa tuổi tham gia quét tước trong nhà ngoài ngõ đúng nghĩa “chộn rộn chàng ràng như làng vào đám”.
Trước lễ chính một ngày, mọi việc chuẩn bị phải xong, 7 thày phù thủy thuộc loại cao tay ấn, do thầy Cả dẫn đầu cùng các học trò lễ (người phụ tá) đi làm phép”trấn đạo lộ” (trấn yểm). Họ mang theo những mảnh bùa vẽ sẵn dán trên mảnh gỗ, tre, vừa đi vừa giật khăn ấn, vừa bắt quyết, phún hỏa (phun dầu hỏa) dựng bùa vào ngã ba ngã tư đường làng hoặc nơi nghi ngờ có quỉ, ôn tụ tập. Những nơi này đều có một bàn thờ nhỏ, thấp, trên có một lư hương. Nơi có đựng bùa hoặc đường dự kiến cho các phù thuỷ cùng đám người đi trấn yểm, trừ tà ma quỉ quái đều được dọn dẹp phong quang, thoáng đãng.
Trên đường, đoàn trấn yểm kéo dài như đoàn rồng rắn. Phía trước là những người đánh trống, thanh la và các thày pháp vừa đi vừa ái phà, hú hét. Phía sau là cả đoàn dài những người tò mò đi xem. Từng tốp trai thanh gái lịch đứng ở vườn này, vườn kia cất giọng thách hát đối, khi thấy các tốp nam nữ ở ấp khác đi qua. Những điệu hát huê tình, hát đúc, hát kiến tại cứ bay bổng hàng giờ. Khi cuộc hát kết thúc, đám đông nhập vào đoàn trấn yểm và như vậy, cuộc trấn yểm bỗng trở thành cái cớ cho người tứ xứ gặp nhau. Hết những nơi đã định sẵn, các thầy pháp trở về đình dán 4 lá bùa vào 4 cây cột góc và một lá ở cửa chính. Tại đây, nhiều người thuộc các xóm ấp nhỏ trong làng, những nhà vườn lâu nay bị “quỉ ma khuấy phá” đã chầu chực sẵn. Ai cũng mang theo vài tảng đá đã quét vôi đến xin thầy vẽ bùa vào để về yểm. Chánh bái cùng thầy Cả và một số tráng đinh khỏe mạnh kèm ban nhạc, cờ xí đi trước về tại sân đình. Đầu Long Chu xoay vào trong trước mặt có hương án, trên đựng đồ ăn bằng chuối cắt ra gồm bánh trái, xôi thịt, cháo chè, gạo muối, thuốc, nước, củi… mỗi thứ một ít. Thầy Cả làm phép khai quang điểm nhãn, lấy mực và son vẽ 2 con mắt cho Long Chu rồi làm lễ vô khoa (lễ cúng tổ phù thủy) làm khởi đầu cho các lễ sau.
Đầu tiên là lễ cáo thần (lễ túc yết) vào giờ tý (12-2 giờ đêm) lễ vật đơn sơ, hương đăng trà quả. Đến giờ mão (6-8 giờ sáng) làm lễ tế thần. Lễ này cúng mặn, có heo, gà để bày tỏ lòng thành của dân làng với thần, lính cai quản làng nên hết sức trang nghiêm, trọng thể như lễ đình ở mọi nơi, có văn tế và nhạc đã coi là lệ nên không thể bỏ. Xong thủ tục, đến giờ thìn (8-10 giờ sáng) lễ cúng Long Chu chính thức bắt đầu. Thầy Cả mặc áo Thái Thượng Lão Quân in hình bát quái, thắt lưng đỏ, vai vắt khăn ấn đỏ hoặc vàng, chân đi hia, đầu đội mũ tì lư, tay cầm cái vãng cắm hương hoặc cái kỵ lịnh (chuông lắc), tay bắt quyết. Phụ tá cho thầy Cả có các thày con và các học trò lễ cùng dàn nhạc. Thầy bắt quyết cho quay đầu Long Chu ra cổng, thầy đọc những bài chú riêng, mỗi đoạn chuyển lại gõ lệnh bài vào hương án, trong khi các thầy con điểm nhạc, đọc kinh hòa theo và dâng những thứ cần cho thầy Cả. Thầy Cả vừa đọc những bài chú đầy bí ẩn vừa đọc văn triệu 32 tướng chỉ huy, văn triệu âm binh, văn phát lương, văn phát ngoại binh. Các bản văn cho thấy đội ngũ binh tướng được triệu đến để trừ tà diệt quỉ là cả một lực lượng khổng lồ. Trên hết là những vị tổ sư: Thượng Thanh Tiên Cảnh – Linh Bảo Thiên Tôn, Thái Thanh Chân Cảnh – Đạo Đức Thiên Tôn, Ngọc Thanh Thánh Cảnh- Nguyên Thỉ Thiên Tôn. Phía dưới là 32 chức vị thần tướng Đông Tây Nam Bắc, ba cung trung đạo và “vạn vật âm binh” tràn ngập trong “thế thiên la địa võng”. Lực lượng này được phát lương no đủ (gạo muối) để “ra tay bắt kẻ tà ma làm lệnh”, “xây lũy đào hào bủa lưới giăng”, “sát quỉ trừ tà hộ bổn chủ”. Quỉ ma cũng được đãi đằng tử tế, cả những lời vỗ về hoặc lời lên án nghiêm khắc buộc phải tuân thủ dưới sự thâu tóm của âm binh lên Long Chu đi đày miền khác. Số nào có quá nhiều tội lỗi phải chịu trừ khử. ở đoạn này, thầy Cả đọc văn khao ôn, văn tống quái. Nếu thày Cả già yếu, thày phụ trẻ sẽ đọc văn thay, vừa đọc văn vừa có những động tác múa võ, múa nhập đàn. Phạm vi hoạt động của các thày pháp là cả sân đình rộng. Thầy ra vào tới lui tấp nập như cuộc đấu quyết liệt có thật với lực lượng vô hình, người xem cứ ngày càng phấn kích hể hả ra mặt nhất là khi thày có động thái dữ dội với một tên ma quỉ ngoan cố, ngạo mạn, khi thì thầy trầm trầm trách cứ với một kẻ đã quen mặt, đã nhiều lần được tha nay lại bị âm binh bắt về. Trường hợp lâu nay có chuyện hỏa tai, có cây cột hiển linh gây đau ốm trong nhà hoặc nửa đêm thốt nhiên có đất đá quẳng rào rào trên mái nhà, thì do chủ nhân đề nghị trước, thầy sẽ cúng thêm và đọc những bài văn “tống hỏa tai”, “văn cúng tên bắn đất”, “văn cúng mộc trụ”.
Nghỉ một lát, vào giờ dậu là đợt cúng cuối cùng sau bài “phát lương”, thầy đọc tiếp các bản “văn khao Nương Nương”, “văn khao thổ ôn thổ quỉ”, “văn khao thủy giới”, “văn lễ Hà Bá” được xướng lên. Cuối cùng là bài “văn khao ôn” trong đó có đoạn “tạ Ôn Vương” được đọc nhiều lần. Các thầy phù thủy thay nhau đọc, sau đó thầy Cả vẽ bùa bắt ấn vào Long Chu xướng lớn “yểm ghe đi không được ngó lại”, “yểm Lục Giáp, Lục ất, hung thần đi cho mau, Lục Bính, Lục Đinh quỉ mị phải đi gấp, Lục Mậu Lục Kỵ lánh đi cho mau, Lục Oanh, Lục Tân, tà ma hóa ra bụi bặm, Lục Nhâm, Lục Quỉ hung nương lánh mặt đi cho xa”. Thầy Cả gõ lệnh bài chan chát vào hương án, các thầy phụ cùng bắt ấn hướng vào Long Chu để giết quỉ ma. Đến đây lễ tế tại đình kết thúc, chuyển sang phần rước Long Chu. Theo hiệu của thầy chấp lệnh, bốn thanh niên khiêng Long Chu có thầy Cả ngồi trên hai thanh gươm tuốt trần bắt chéo hình chữ X: hai bên các thầy phụ đi kèm, phía sau có ông chánh bái và ban lễ đại diện cho làng, phía trước một số thanh niên mang đuốc chạy soi đường. Người đánh trống chầu thúc ngũ liên, Long Chu chạy lúp xúp tới những nơi đã trấn yểm hôm trước, các thầy phụ đọc kinh, đọc chú, giật khăn trấn yểm. Hết nơi này đến nơi khác. Trên đường rước Long Chu có nhiều trạm dừng chân để thay người khiêng. Dưới ánh trăng rằm mới lên, mọi người trong làng dùng roi quất khắp nơi rồi tràn ra đường, xông khói lửa đuốc sáng rực ngõ xóm chờ Long Chu đến. Họ đốt pháo, quẳng roi vào Long Chu, giật bùa của thầy về dán ở ngõ. Tất cả đều hào hứng, âm thanh náo loạn. Người lớn, trẻ con chờ xem rồi nhập vào đám rước. Người già trẻ con ai ai cũng thích. Long Chu đi hết các nơi phải đi cũng đã đến giờ Hợi. Đám rước đến một nơi vắng thì dừng lại, nổi lửa đốt Long Chu. Nơi gần sông thì họ thả xuống sông, trên Long Chu có những chén dầu lạc làm đèn cháy sáng, trôi dần ra biển.
Ở đình Cẩm Phô, ngoài các hình thức như nhiều nơi còn thêm tục “xô cộ” (cổ). Cộ là một dàn tre hình chóp nhiều tầng cao chừng 2m. Mỗi tầng có đặt xôi thịt, bánh trái, tiền… Phía trên là một khung pháo cây. Khi cúng đình xong, pháo nổ mọi người xô vào cướp, ai được nhiều thì xem như có nhiều lộc. Người Hoa ở các bang thường làm Long Chu lớn và công phu hơn. Có khi toàn bộ Long Chu làm bằng vải, dài cỡ 5m, phải luồn tre xuống dưới bụng cho bốn cặp người khiêng (8 người) cúng ở chùa Âm Bổn, Ngũ Bang hay chùa Ông. Cộ cũng làm lớn, có khi để cả con heo quay trên đó. Khi có lệnh xô cộ, mọi người tranh nhau vào lấy lộc, có người thật nhanh dành được cả con heo quay để chót vót trên đỉnh giàn mà chạy. Long Chu của người Hoa thường được thả xuống sông, trên đó có thêm rượu, khèn, “sáp ong”, heo quay nguyên con, cả gà trống còn sống. Ở khu vực Thanh Chiêm (An Nhơn, An Quán, Đông Phương, Phước Kiều) làm Long Chu không đẹp bằng dưới phố Hội An, có khi chỉ là bè chuối có mui che thức cúng, đầu và đuôi rồng làm riêng bằng giấy gắn vào. Việc cúng do làng ấp tổ chức có thầy pháp chủ trì với mục đích “tống sùng trừ ôn dịch”, mong một mùa nông sản tốt đẹp. Như vậy, lễ hội Long Chu phần cúng lễ kéo dài hai ngày hai đêm, nặng phần phù thủy. Long Chu thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan của người dân xưa, khi chưa cắt nghĩa và có hành động giải quyết được những hiện tượng lạ quanh mình nên để thực hiện phải nhờ đến thế lực phù thủy với các nghi lễ ma thuật huyền bí. Bản chất đích thực tốt đẹp ban đầu bị chìm lấp, tính chủ động, sáng tạo bị kìm hãm nên ý nghĩa hội cũng bị chìm sâu, không nổi trội. Bóng dáng các cuộc hát đối đáp hiện lên mờ nhạt. Trước năm 1945 Long Chu được mọi làng, ấp làm; làng làm lớn, ấp làm nhỏ thường kết hợp với đình nên bị hiểu lầm là hoạt động phụ của tổ chức cúng tế lớn thường kỳ hàng năm. Qua hồi cố, tôi thấy ý nghĩa mục đích của Long Chu có tách bạch, các làng ấp lớn ở Hội An, Duy Xuyên, Điện Bàn quanh vùng Cửa Đại đều có làm Long Chu. Có nơi cúng Long Chu sau dịp tế đình vài ngày, vì phù thủy không đủ để phục vụ đồng loạt các làng cùng một lúc. Có cách giải thích khác rằng Long Chu làm sau để thành hoàng thấy rõ sự bất lực của mình nên càng chăm lo đến việc hơn. Từ 1975 đến nay, lễ hội Long Chu không được tổ chức. Vài nơi, thay vì làm Long Chu, họ làm bè chuối để ít gạo muối, bánh trái thả sông. Long Chu tuy nặng phần lễ nghi, nhẹ hoạt động hội nhưng nó vẫn là loại lễ hội vì huy động toàn bộ dân cư trong một địa bàn tham gia và là mối lo chung cho mọi người. Đó là sinh hoạt văn hóa-tín ngưỡng cộng đồng. Bóc lớp văn hóa nặng về nghi lễ, nó thể hiện mặt nhân văn rất rõ. Đó là cái Nhân trong truyền thống nhân đạo của dân tộc. Quỉ ma quấy phá nhưng chúng vẫn được mời lại để khao vọng, an ủi vỗ về rồi nhờ thần tướng, âm binh tróc nã, phán xử. Bên cái mềm có cái cứng. Trong việc thờ, có khao có tạ, nổi bật lên là lòng cầu mong an cư, hòa bình. Bao trùm là cái nhân bản, khao khát tự khẳng định bản ngã giữa đời giữa đất của mình, vươn lên không ngừng cho cuộc sống tốt đẹp, thịnh vượng hơn. Lễ hội Long Chu, thực chất là một cuộc tổng tấn công trừ khử tà ma dịch bệnh và cũng là công cụ để chuyển tải, bày tỏ sâu sắc văn hóa của cộng đồng cư dân nông nghiệp. Dù ở mức độ nào cũng có tác dụng đoàn kết, hòa đồng, để cùng chiến thắng, để mưu sinh. Cư dân Hội An có một quá trình tụ cư, hỗn cư, hợp cư nên đương nhiên có sự tiếp thu những văn hóa của các dân tộc người có quan hệ. Trong điều kiện phát triển đô thị – thương cảng trung chuyển mậu dịch quốc tế nên lễ hội Long Chu có sự tích hợp và hòa đồng giữa Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian. Đây là một sinh hoạt tổng hợp, có bóng dáng của các môn bùa phép ếm đối thờ đá ở người Chàm, của quan niệm đưa linh hồn người quá cố qua bến Giác Hải của người Trung Quốc, của dấu vết lễ dâng quả đầu mùa cho tổ tiên của người Thái và sự tạ ơn thần của một số nước ở vùng Đông Nam Á. Trong văn cúng Long Chu xuất hiện tên gọi các vị thần xuất xứ từ Trung Quốc, từ Bắc Bộ và Trung Bộ. Các thể văn viết bằng chữ Hán, Nôm có ngâm, có xướng mang phong cách xứ Quảng. Mặc dầu có những hạn chế, có màu sắc tín ngưỡng,Long Chu vẫn lấp lánh ước mơ của cư dân nông nghiệp “Gạo Lương Sơn ngon tại Thiên Phù, ăn tất quí đầy thiên thu, uống tất sống lâu muôn tuổi, đầy đầy hồ gạo châu tích, tràn tràn hồ lúa khắp vạn nơi”. Và, Long Chu vẫn là loại lễ hội kết hợp một sản phẩm sáng tạo văn hóa của cư dân nông nghiệp sông nước Hội An cũng như những lễ hội nước khác cần được tiếp tục nghiên cứu, phát huy những mặt tốt của nó./.
Nguyễn Đức Minh
Related posts:
Thị xã nhỏ bé nằm trên đất Quảng Nam này từng là nơi chứng kiến hai cuộc giao thoa văn hoá lớn trong lịch sử dân tộc Việt: Lần thứ nhất cách đây hơn 5 thế kỷ, khi nước đại Việt tiến về phương Nam mở mang bờ cõi, và lần thứ hai cách đây hai thế kỷ, khi người phương tây theo các chiến thuyền và thương thuyền đặt chân lên mảnh đất này với ý đồ truyền bá và thôn tính. Cả hai sự kiện lớn đó đều kéo theo tương tác văn hoá lớn lao và nền văn hóa Việt đã vượt qua thử thách đồng hoá để tự cải biến và tồn tại cùng thời cuộc. Giờ đây, du khách tới Hội An, ngoài việc khám phá sự bình dị chân thật trong tâm hồn người dân phố Hội, sẽ mất nhiều thời gian chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính và tĩnh lặng của các mái ngói phủ rêu xanh mướt và nét chạm trổ tinh vi trong những căn nhà gỗ đã tồn tại từ hơn ba trăm vòng quay xuân hạ thu đông.
Sáng kiến khôi phục việc thắp đèn lồng thay cho ánh sáng điện từ mùa thu năm1998 đã mang lại hiệu quả không ngờ ngay từ buổi đầu tiên. Vào mỗi đêm 14 âm lịch, mọi sinh hoạt của thị xã bình yên này được quay trở về với tập quán của hơn 300 năm trước, và khu phố cổ nằm trong giới hạn của bốn con đường Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Lê Lợi, Bạch Ðằng đã hàng loạt tắt đèn và treo trước hiên nhà những ngọn đèn lồng huyền ảo.
Dù toả sáng nhờ ngọn điện thông thường, song ánh sáng của đèn lồng mờ dịu và phảnh phất dấu ấn của thời gian xưa cũ. Những chiếc đèn tròn, lục lăng theo phong cách Trung Hoa treo dưới mái hiên và hai bên cửa ra vào, đèn quả trám hoặc ống dài kiểu Nhật Bản phất giấy trắng lơ lửng dọc theo hàng cột, đèn trụ vuông, đèn quả trám to nhỏ các cỡ… tất cả đã tạo lên một thế giới lung linh, huyền ảo. Trong đêm hoa đăng, phố cổ đã tự nguyện ngừng sử dụng các thiết bị điện như TV, đèn đường, đèn neon… nhưng người dân Hội An không thấy đó là điều bất tiên cho cuộc sống của mình.
Cường độ ánh sáng giảm đi, song chất men say của thị xã lãng mạn đã bốc mạnh trong mỗi con người khi đi qua phố cổ.
Trong ngôi nhà cổ rêu phong, bóng người phụ nữ áo dài thời trước cặm cụi làm việc dưới ánh đèn lồng được tạo thành từ chiếc nơm cá giản dị, bên vỉa hè, hai người già râu tóc bạc phơ đang chìm đắm vào suy nghĩ với ván cờ tướng thắp sáng bởi ngọn nến lung linh… Dường như con người đang được sống với dĩ vãng khi mà những phiền toái của cuộc sống hiện tại chưa hiện hữu.
Trong bầu không khí cổ tích đó, hãy kiểm nghiệm sự hiện hưu bằng việc nếm một vài món ăn phong vị xứ Quảng như bánh Bo, bánh Vạc, Cao lầu tại các nhà hàng còn giữ nguyên hình ảnh đầu thế kỷ. Tại tiệm ăn FaiFo trên đường Trân Phú, những chiếc đèn lồng nhỏ xíu hình dáng cổ điển chiếu một nguồn ánh sáng vàng ấm áp, hoà điệu cùng cặp đèn lớn có dán lời cầu ước chữ Hán theo phong tục cổ xưa trước mái hiên. Ðộc đáo hơn là cách bài trí của tiệm cafe có tên “Treated”. Tại đây, người chủ đã khoét thủng trần gỗ và lồng vào những chiếc rá tre vo gạo bình dị. Hàng lỗ thủng đều đặn của rá tre đã tạo ra một nguồn ánh sáng ngộ nghĩnh và độc đáo. Có phải người chủ nào cũng đủ cam đảm khoét thủng trần gỗ của nhà mình ra ?
Hiện diện trên phố Hội An là vô số các cửa hàng bầy bán các loại đèn lồng làm kỷ niệm. Tuỳ theo chất liệu vải bọc ngoài mà ngọn đèn đưa tới những loại ánh sáng khác nhau. Ðó có thể là mầu đỏ may mắn, mầu vàng tươi vui, mầu gấm huyết diụ kiêu sa hay sắc xanh lãnh lẽo. Tuy nhiên khó so sánh được với những chiếc đèn lồng có tuổi hàng thế kỷ đang được các gia đình sinh sống lâu đời ở đây gìn giữ và chỉ chưng ra trong đêm hội hoa đăng. Những ngọn đèn này được chế tác từ gỗ quý, chạm trổ cầu kỳ và trên mỗi tấm kính là một tác phẩm hội hoạ thật sự. Các tích truyện cổ nổi tiếng được nghệ nhân xưa vẽ trên kính, sinh động và hoàn hảo như một bức tranh đắt giá. Mỗi khi ngọn nến bên trong toả sáng, cảnh mây trắng, trời xanh hoặc nước biếc sẽ liên tục quay tròn, hắt bóng các chi tiết lên mặt kính.
Khung cảnh và ánh sáng kỳ ảo trong khu phố cổ quyện với giọng ca bài chòi, hò khoan, giã gạo… vẳng lên từ con thuyền đậy dưới bến sông, dưới mái hiên, nơi đầu phố… tạo ra sức cuốn hút kỳ lạ đối với du khách. Không quá trang nghiêm như Cố Ðô Huế, không quá sôi động như chợ Lớn, nét cổ truyền nơi đây mang một vẻ thuần khiết, thu hút những tâm hồn ưa chuộng lãng mạn của những ngày xa xưa.
Related posts:
Ngày 30 tháng chạp Âm lịch có lẽ là ngày bận rộn nhất của mọi gia đình Bàn thờ gia tiên nghi ngút khói hương. Xuất phát từ niềm tin rằng những người đã khuất bóng sẽ về ăn Tết nên ngày 30 thường tổ chức lễ cúng rước ông bà. Trên bàn thờ gia tiênlúc nào cũng có ly nước để súc miệng và nhiều thiếp giấy vàng bạc để ông bà “tiêu tết”.

Khi đến thăm viếng bất cứ nhà nào, việc đầu tiên của khách là đến bàn thờ thắp nén hương để vái chào tổ tiên gia chủ trước khi vào đàm đạo với người trong gia đình. Con cháu đi làm ăn xa hoặc có gia đình ra ở riêng thì ngày 30 phải về cha mẹ hay nhà từ đường để cúng rước ông bà. nếu vắng mặt thì sẽ mang tội bất hiếu.
Khi tiếng trống giao thừa gióng lên, thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, giữa âm và dương, cũng là lúc mọi người gác bỏ mọi âu lo, toan tính ngày thường, hướng lòng mình vào vũ trụ vô biên, sống với cả tâm linh huyền nhiệm. Trước và sau giao thừa vài phút, nhà nhà đều làm “lễ cúng giao thừa” hay “cúng đầu năm”. Lễ cúng này rất đơn sơ, chỉ có hoa quả, bánh mứt, không dùng rượu và thịt cá, và thường diễn ra ở ngoài sân, ở trước hiên nhà, nơi có thể nhìn thấu cả đất trời. Lễ cúng giao thừa không nhằm tới một vịt hánh cụt hể nào cả mà hướng về tất cả những thế lực siêu nhân vô hình, cầu mong cho năm mới an khang thịnh vượng. Cúng xong, người ta thường vãi gạo, muối ra khắp bốn phương, tám hướng, ngụ ý tặng lương thực, thực phẩm cho những vong hồn không nơi nương tựa, đèn nến lung linh khắp phố, khói hương trầm lan toả thơm ngát đất trời, hướng mọi tâm hồn về chí thiện…
Mồng một Tết là ngày tảo mộ. Mọi người đều diện bộ áo quần đẹp nhất, mới nhất. Giờ phút thiêng liêng, đầu ănm bao giờ cũng được dành cho những người đã sinh thành ra mình với tấm lòng biết ơn vô hạn. tại các nghĩa trang, người người chen chúc, khói hương mù mịt, các nấm mồ được dọn dẹp sạch sẽ và thơm mùi nước vôi hay mùi sơn mới. Đây là dịp để cá vị cao niên chỉ bảo, dặn dò cho con cháu nơi an nghỉ của tổ tiên, những điều phải trái của đạo làm người và không bao giờ quên nguồn cội.
Mồng hai và mồng ba Tết là ngày của họ hàng , bạn bè thân thuộc . Đây là dịp để bà con gặp lại nhau hàn huyên tâm sự sau một năm tất bật chuyện làm ăn và chúc cho nhau những lời đẹp đẽ, tốt lành nhất. Tình gia tộc, tình bằng hữu cúng nhân dịp này mag hàn gắn nảy nở, duy trì.
Về chuyện ăn uống trong ngày Tết, người Hội An rất sành ẩm thực. Có những món ăn ngon, lạ miệng mà chỉ Hội An mới có. Người Hội An chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc qua mấy thế kỷ làm ăn buôn bán với người Hoa cho nên có nhiều món ăn không thuần tuý của người Việt, tiêu biểu như món cao lầu, mì hoành thánh, bánh tổ.. Vào ngày Tết người Hội An phải làm thật nhiều bốn loại bánh : bánh tét, bánh tổ, bánh nổ, bánh in, nhưng xem ra bánh tổ được nâng lên hàng đầu . Ngày tết ở đây còn có món chè đậu đen đặc quánh, xôi đậu đen ngọt lự, bánh bột đậu xanh thơm ngon, bánh su sê hấp dẫn… Tuy nhiên, món ăn mặn được người Hội An ưa thích nhất , nhà nào cũng dàng món bánh tráng cuốn với thịt heo luộc và rau sống , chấm với nước mắm Nam Ô, ngon hết ý . Ngoài ra người Hội An còn thích món giò heo hầm với thuốc bắc hay hầm với đậu đen , thịt kho tàu, mạc nạm (một loại bò kho địa phương)…
Tết Hội An kết thúc vào khoảng mồng bốn hoặc mồng năm khi mọi nhà dã làm lễ cúng “tiễn ông bà “ về cõi vĩnh hằng.
Hoàng Lê – Báo Thương Mại – Xuân Giáp Thân
Không có bài viết liên quan.
]]>