“Nhưng mà cậu hỏi tuổi của tôi để làm chi chứ? Nhiều người cứ nói Hội An 500 tuổi, rồi 400 tuổi, sai hết. Di sản làm gì có tuổi? Tôi cũng cổ như Hội An đây. Có điều tôi chưa được công nhận là di sản thôi!”.
Múc xong chén chè cho một người mẹ trẻ, ông ngước nhìn tôi, thật hóm: ” Còn hỏi chi nữa không?”. “Dạ thưa, có người gọi bác là “ông lão xí mà”. Sao lại là xí mà hả bác?”. Ông cười. Còn đúng hai chiếc răng. “Riêng cái tên nớ thì đúng. Xí mà là thứ mà nãy giờ cậu ăn đấy. Chỉ nên biết rứa thôi. Đi giải cho được cái chữ “xí mà” ấy, khác nào đi tìm lời giải cho câu hỏi “sông Hoài có từ hồi mô?”.
Thấy tôi lớ ngớ trước cái kiểu trả lời úp úp mở mởấy, ông lão dấn tới luôn: “Còn trẻ mà chậm hiểu hè?”. Hai từ “còn trẻ” được ông kéo ra thật dài. Tôi thật bối rối trước sự đáo để của ông lão. Bụng bảo dạ: “Gặp đúng thứ thiệt Quảng Nam rồi đây”.
Mỗi ngày một gánh
Những ai từng sống ở Hội An 5-10 năm trước, chắc sẽ không quên hình ảnh này: Đúng 6 giờ sáng mỗi ngày, bất luận trời mưa hay nắng, trên các con đường của khu phố cổ, có một cụ già, gánh trên vai đôi thùng thiếc đen xỉn vì ám khói, bước những bước thật chậm rãi, không một tiếng rao, chốc chốc dừng lại để bán hàng cho khách. Đó là “ông lão xí mà”.
Đôi thùng thiếc ấy, một đầu dùng để đựng chè xí mà, đầu kia đựng chén và nước rửa, treo toòng teng nơi mút đòn gánh là chiếc bi đông đựng nước uống. Cứ hết phố này, ông sang phố khác, chậm rãi bước, lặng lẽ bán, mỗi ngày một gánh chè, đúng 60 năm. Người dân Hội An hình như đã quá quen ông lão, trẻ con cũng đã thuộc lòng giờ giấc của những bước chân chậm rãi nơi ông nên chẳng cần nghe tiếng rao, chúng cũng biết là sắp nhận được món quà độc đáo từ ông, giá đúng một ngàn.
Mỗi ngày một gánh, 60 năm là bao nhiêu gánh chè? Mỗi ngày đi qua 20 con phố, dài 10 ngàn mét, 60 năm qua, ông đã đi bộ bằng chiều dài của mấy vòng trái đất này? “Làm răng mà tôi tính cho được? Cậu nhìn vào chiếc đòn gánh kia thì biết!”. Tôi nhìn vào nơi ông chỉ. Đó không còn là chiếc đòn gánh đơn thuần nữa. Thời gian và mồ hôi của chủ nhân đã kịp dát lên đoạn tre già vô tri kia những nhọc nhằn đen bóng. Hai năm qua, khi đã sang tuổi 90, sức khỏe đã không cho phép bước chân ông lão gõ những nhịp guốc mộc quen thuộc trên các con phố cổ nữa, ông lại chọn cho mình một chỗ ngồi khá yên tĩnh trên đường Nguyễn Trường Tộ.
Vẫn mỗi ngày một gánh và bán hết trong một buổi sáng. Nếu như ngày trước, ông tìm đến khách hàng bằng những bước chân chậm rãi ấy, thì bây giờ, người Hội An lại tìm đến ông. Chốc chốc, một chiếc xe đạp dừng lại trước gánh chè. Chủ cũng không màng hỏi khách là mua bao nhiêu mà chỉ nhìn mặt rồi… múc chè cho vào túi nilon!
Tôi hỏi: “Làm sao bác biết chịấy mua bao nhiêu mà bán những hai túi?”. Ông lại đưa chiếc quạt nan lên phe phẩy: “Ba năm trước, cô nớ chỉ mua một túi. Chừ mua hai túi. Biết răng không?”. Tôi lắc đầu. Ông lão nhìn về phía người mua chè: “Đứa nhỏ một tuổi rồi phải không?”. Người đàn bà gật đầu thân thiện.
Ông lão nhìn sang tôi: “Cô ấy có đứa con thứ hai. Hai đứa phải mua hai túi. Một túi để nó đánh nhau à?”. Chị Thư – người mua chè, xác nhận: “Ông thuộc lòng từng khách một ấy mà. Hội An ni, ai ông chả biết”.
Tôi hỏi chị Thư: “Có khi nào chị mua chè chỗ khác?”. Chị nhìn tôi ngạc nhiên: “Biết mua loại chè ni chỗ mô nữa? Ở Hội An, hồi mô đến chừ, tui chỉ thấy có mỗi ông lão này là bán chè xí mà thôi. Một gánh duy nhứt, không có gánh thứ hai. Đứa trẻ mô được ăn chè của ông một lần, lần sau chớ có đổi món. Ngày mô tui cũng phải mua cho mỗi đứa con một túi”.
Cổ như phố cổ
Cứ xong một lượt khách, ông lại ngồi bất động như một thiền sư. Nếu không trò chuyện cùng ông từ trước, nhìn cái dáng ngồi ấy, chắc là tôi chẳng dám đến gần. Khuôn mặt ông phảng phất một vẻ liêu trai khó tả. Cái sương khói huyền hồ như lẫn vào đôi quang gánh, như nhập vào bộ xiêm y nơi ông. Nhìn kỹ hơn một chút nữa, tôi chợt nhận ra rằng ông đã “nhập” vào Hội An tự bao giờ không biết.
Ông “lạ” từ bộ quần áo nâu sồng may theo kiểu Tàu, đến đôi quang gánh, cả cái thứ nước chè ông mời khách cũng quá đỗi cổ xưa. Ông cẩn thận cho chè vào túi nilon, lần bàn tay nhăn nheo xuống dưới đáy chiếc thúng cũ rồi lấy ra một sợi dây lác, buộc thật chặt miệng túi, trước khi trao cho khách. Những ai ăn chè tại chỗ, ông múc ra một chiếc bát nhỏ, cẩn thận đến mức không rơi một giọt. Xong, ông lão rửa bát bằng một thứ nước rất lạ, có mùi thơm hăng hắc, mà theo cách giải thích của ông là “đừng có hỏi!”.
Khi khách mua chè đã vãn, ông bắt đầu mang tiền ra sắp xếp theo mệnh giá. Tuổi ngoài 90 rồi mà mắt còn tinh lắm. Ông tỉ mẩn cho những đồng có mệnh giá lớn hơn (cao nhất là tờ 10 nghìn) vào túi áo trên, dùng kim băng ghim lại thật chặt; còn số tiền lẻ, ông cho vào túi dưới. Ông bảo: “Để thối lại cho dễ”. Tôi ước chừng khoảng một trăm nghìn. Thế là ông lão đã thắng, ít nhất cũng kiếm được năm chục. Gần “bách niên” rồi mà ngày kiếm năm chục từ sức lao động của mình, trai tráng như tôi cũng xin bái phục.
Tôi vờ thử tài ông: “Cụ nhầm tờ 500 cho lẫn với tờ 10 nghìn kìa!”. Ông nghiêm mặt: “Đừng giỡn với lão nghe! Hơn 60 năm bán chè, lão chưa nhầm một cắc!”. Tôi tái mặt!
Người “giải mã” những bí ẩn
Định tiếp tục cuộc trò chuyện đến khi nào “moi” cho được tên ông thì thôi nhưng tôi biết, có ngồi tàn đêm đi nữa thì người thua cuộc cũng vẫn là tôi. Vừa giận, lại vừa nể ông lão.
Đang lúc bí, một người bạn ở Hội An mách cho đường đến nhà ông. Luồn sâu trong một con hẻm nhỏ trên đường Trần Hưng Đạo, tôi tiếp cận được ngôi nhà. Ra mở cổng đón khách là một cụ bà nhỏ nhắn và xởi lởi. Khác với cái cách úp úp mở mở của cụ ông, cụ bà đi thẳng vào cái mà tôi cần: “Ông tên là Ngô Thiểu, người gốc Hội An. Còn tôi quê Điện Bàn. Tôi với ông ấy gặp nhau trên 60 năm nay, mười lần sinh nhưng còn có 4 người. Tất cả đều thành đạt. Tất cả đều nhờ vào… gánh chè của ông ấy để lớn lên và học hành. Và, cũng tất cả đều không theo “nghề” của cha mẹ. Ba giờ sáng đã thức dậy rồi, thanh niên bây chừ, chịu không nổi mô!”.
Ngừng một lát, bà cụ tiếp: “Xí mà là tên gọi của người Tàu dùng để chỉ loại chè lấy mè (vừng) đen làm nguyên liệu. Cậu hỏi lai lịch của gánh chèấy à? Chuyện dài lắm. Ngày mới lấy ông, cha mẹ hai bên đều nghèo nên chẳng giúp được gì. Con cái thì cứ sòn sòn hai năm đôi. Tôi phải gánh cá chuồn tên tận thượng nguồn Thu Bồn đổi gạo nhưng vẫn cứ thiếu trước hụt sau. Một đêm, đang giữa khuya, ông bùng dậy và nói như người mộng du: “Tui nhớ ra rồi, mẹ nó ơi!”. Gặng hỏi mãi ông chẳng nói gì, chỉ thấy sáng sớm hôm sau, ông xăm xúi ra chợ mua mè đen, rau má, bồ ngót, đường bát và một cái xoong thật to rồi nhóm bếp. Gánh chè ra đời từ đó. Chẳng phải ông tự nghĩ ra đâu mà lúc nhỏ, ông ấy có đi làm công cho một gia đình người Hoa ở Hội An này và học được nghề nấu chè xí mà từ gia đình người Hoa nọ”.
Cũng theo bà cụ, sở dĩ món “xí mà” đã mê hoặc nhiều người không chỉ vì mùi vị của rau ngót, rau má hay mè đen, đường bát mà còn có một thứ khác. Bà bảo: “Ba giờ sáng đã dậy để đãi mè, lặt rau, giã thật nhuyễn rồi lấy nước cốt cho vào nồi chè. Có một điều bí mật nơi ông mà tôi không được biết. Đó là khi gánh chè chuẩn bị “lên đường”, ông móc trong túi ra cho vào nồi chè một loại thuốc bắc nào đó mà chỉ có ông mới biết mà thôi”.
Nghe cụ bà nói thế, tôi lại nghĩ vẩn vơ: Ông này cũng giống Hội An đây, vừa cụ thể, gần gũi nhưng cũng hết sức bí ẩn. Một người bạn của tôi đầy vẻ tự hào khi nói rằng ở Hội An quê anh, mỗi người dân đều giữ một phần di sản. Theo cách nghĩ của anh bạn thì cụ Ngô Thiểu , dù ở tuổi 90 nhưng vẫn gánh cái di-sản-xí-mà trên vai mỗi ngày vậy.
Xíu Mà là món ăn có nguồn gốc từ Phúc Kiến (Trung Quốc), du nhập vào Hội An (Quảng Nam) trong những năm đầu của thế kỷ trước, khi những người Hoa đến buôn bán kinh doanh. Đây là món ăn ngoài tác dụng điểm tâm thanh cảnh, còn là một bài thuốc chữa các bệnh về tiêu hóa, giải nhiệt, chống cảm nắng, suy nhược cơ thể…
Xíu Mà được làm rất công phu từ bột gạo nếp hương, nhân dừa xay nhuyễn, vừng (mè), đậu xanh, đường tinh luyện và thanh địa thuốc bắc. Khi nấu chín, Xíu Mà có màu đen sánh, mùi thơm lan tỏa.
Ở Hội An, bao năm qua cứ vào mỗi buổi sáng tại góc đường Nguyễn Trường Tộ, mọi người đều thấy một ông cụ đầu đội chiếc nón rộng vành ngồi múc từng chén Xíu Mà bán cho người dân và du khách. Đó chính là già Ngô Thiểu nổi tiếng làm Xíu Mà ở Hội An, giờ đây đã trở thành thương hiệu “Xíu Mà Ngô Thiểu”. Ông cho biết, xưa nay ở Hội An cũng có vài nhà làm Xíu Mà nhưng do nhiều lý do mà dần bị mai một thất truyền. Hơn 75 năm trước, ông đã được chứng kiến cách làm Xíu Mà từ ông nội và cha mẹ của mình. Những năm trước đây, khi còn khỏe và phải lo nhiều cho cuộc sống, già Ngô Thiểu dậy từ rất sớm để làm Xíu Mà rồi gồng gánh 2 nồi lớn đi rao bán quanh Hội An đến quá trưa mới về tới nhà. Mệt lả, nhưng ông rất vui vì đã bán được hết hàng và có những lời khen, lời dặn ngày mai lại đến từ những khách hàng. Nay đã ngoài 90 tuổi, trông ông vẫn rất khỏe khoắn. Tuy không gánh hàng đi rao bán như xưa, ông chỉ ngồi một chỗ cố định trên đường vào trung tâm phố cổ Hội An (Quảng Nam) mà người dân đến ăn và mua về vẫn rất đông đúc.
Related posts:
Từ năm 2004, những thông tin cá nhân về Lê Ngọc Thiệp như số điện thoại, cá tính, khả năng hướng dẫn du khách… đã được Le guide du routard (tên tiếng Việt: Bạn đường) bất ngờ chọn giới thiệu để hướng dẫn du khách sử dụng tiếng Pháp khi đến Việt Nam. Mỗi năm, bản giới thiệu này có sự bổ sung, kể cả… thêm bớt ở lời bình phẩm của người biên soạn. Năm 2008, Le guide du routard giới thiệu ở trang 359: “Ông Lê Ngọc Thiệp, cựu hướng dẫn viên của Văn phòng hướng dẫn tham quan đô thị cổ Hội An. Người đàn ông uyên bác và rất lịch sự. Một mình ông có thể thuộc làu về Hội An. Ông có thể hướng dẫn cho bạn bằng tiếng Pháp trong vài giờ chứ không thể quá lâu vì lý do tuổi cao. Hãy điện thoại cho ông ấy nếu bạn có ý định du lịch đến thành phố cổ này để đăng ký và thảo luận về phí làm việc. Hội An là thành phố văn hóa được nhiều người nói tiếng Pháp lui tới. Người ta gặp ở đó những người nói tiếng Pháp như ông chủ Càphê Des Amis hay ông Lê Ngọc Thiệp ở nhà cổ Phùng Hưng”.
Chẵn 80 tuổi, ông Lê Ngọc Thiệp giờ như một “thương hiệu” ở thành phố di sản Hội An. Ông trở nên nổi bật giữa hàng trăm hướng dẫn viên khác không phải bởi tuổi tác, mà là ở tính chuyên nghiệp và niềm đam mê. Ngoài phương pháp “thính thị” (nghe và thấy), ông già Thiệp có tiếng là người chịu khó tìm hiểu về di tích trước khi trải lòng ra với du khách. Trên các ngả đường lang thang, ông kể với du khách những câu chuyện về rêu xanh trên mái tường nhà cổ, về những ngõ hẻm gắn với hồn phố đã trải hàng trăm năm ở vùng hạ lưu Thu Bồn…
Tôi theo ông leo lên cầu thang gỗ ở nhà cổ Phùng Hưng. Buổi trưa cuối tháng 3, góc phố ở đường Nguyễn Thị Minh Khai nơi ông đang làm việc nắng gay gắt và khá tĩnh lặng. Nhưng bên trong là một không khí khác, nhộn nhịp và đầy tiếng ồn. Ông già 80 tuổi như lọt thỏm giữa nhóm du khách cao lớn, thoắt cái đã thấy ông gọn gàng tháo rời tấm cửa gỗ hay thư thả ngồi uống trà cùng họ… Cuối buổi, ông mới nhìn sang phía tôi, nheo mắt: “Thường những du khách già có cảm tình với hướng dẫn viên lớn tuổi. Có lẽ vì họ tin rằng người già ở địa phương sẽ hiểu biết nhiều hơn. Ông bà mình cũng có câu Ra đường hỏi người già, về nhà hỏi con nít” đó thôi. Hèn gì rất nhiều du khách khi bước qua bậc thềm vào nhà cổ Phùng Hưng (số 4 Nguyễn Thị Minh Khai) đều thấy cầm theo “cẩm nang” Le guide du routard.
Nhưng tôi biết, ở ông còn có nhiều bí quyết khác. Như tấm bản đồ về những di tích Chăm do ông tự vẽ lấy được phát cho du khách trước lúc lên đường tham quan thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) và cả những di tích Chăm dọc miền Trung. Sự tỉ mỉ, chu đáo ấy khiến du khách không khỏi ngạc nhiên và khâm phục.
Người bạn đường già hoài cổ
Ông Lê Ngọc Thiệp trở thành người bạn đường già của đô thị cổ Hội An một cách đầy duyên nợ. Sinh ra ở Điện Hồng (huyện Điện Bàn), đến năm 1964, gia đình ông mới dắt díu nhau về phố Hội. Ông dạy tiếng Pháp nhiều năm ở một trường tiểu học, năm 1985 nghỉ mất sức. Mười năm sau, khi Hội An mở văn phòng hướng dẫn tham quan, ông bắt đầu cuộc lang thang mới trên cương vị tổ trưởng tổ hướng dẫn tiếng Pháp. Chừng 10 năm sau nữa, ông thôi làm hướng dẫn viên do lớn tuổi, về mở lớp dạy tiếng Pháp tại nhà riêng cho các nhân viên lễ tân của các khách sạn, hướng dẫn viên và cả… trẻ em trong xóm. Cũng ngồi yên được chừng 2 năm, được ông chủ đời thứ 7 của nhà cổ Phùng Hưng mời làm hướng dẫn viên du lịch cho du khách nói tiếng Pháp, ông già Thiệp lại đi.
Lịch làm việc dày đặc, sáng dạy tiếng Pháp từ 6 – 7 giờ 15 rồi lên nhà cổ Phùng Hưng làm việc, tối lại dạy từ 19 – 20 giờ 30. Ít người biết đấy là một thầy giáo kỹ tính đến mức khó chịu. Học trò của ông bây giờ nhiều lứa tuổi và công việc khác nhau, nhưng mỗi tối ông vẫn… chấm bài bằng mực đỏ! Khi đọc đến đoạn “người đàn ông uyên bác và rất lịch sự” ở cuốn sách xuất bản năm 2008, Lê Ngọc Thiệp xua tay khiêm tốn: “Họ viết hơi thái quá!”. Nhưng Olivier Page, người trực tiếp giới thiệu, đã có lý do riêng. Ngay trên trang đầu cuốn Le guide du routard in năm 2009 mà NXB Hachette vừa gửi biếu, Olivier Page cũng viết vài dòng rất thân thiện: “Chúng tôi biết ơn về cuộc đón tiếp nồng nhiệt của ông”.
Cũng trong bản in năm 2009, Le guide du routard bổ sung thêm một đoạn khá đặc biệt ở trang 364: “Bạn cũng có thể tìm gặp ông ở cầu Nhật Bản. Các bạn đừng lo lắng, ông ta từ chối nói về phí hướng dẫn. Hãy đại lượng với ông ấy…”. Năm sau, nếu Le guide du routard còn muốn giới thiệu về ông, một vài chi tiết có lẽ cần thay đổi, ít nhất là điện thoại 0510-86-31-68 phải thêm số 3 ngay sau mã số vùng 0510. Hoặc nữa, ông Thiệp vừa tiết lộ phải đến tháng 9 năm nay mới thôi việc tại nhà cổ Phùng Hưng, nên dòng chữ “bạn có thể tìm gặp ông ở cầu Nhật Bản” viết từ đầu năm xem ra có phần… việt vị. Mà tất cả cũng chỉ là dự đoán, bởi chưa có dấu hiệu nào cho thấy ông già 80 tuổi ấy dừng lại. “Ông cụ tôi lạ lắm, hễ dừng làm việc là… ốm” – con gái ông Thiệp tâm sự.
Bây giờ, nếu bạn tìm đến đô thị cổ, gặp một ông già gầy gò đi trên chiếc xe đạp cũ và nói giỏi tiếng Pháp, đích thị đấy là Lê Ngọc Thiệp. Bạn không biết đâu, chiếc xe đạp ấy được ông già sử dụng từ hơn nửa thế kỷ. Cả chiếc đồng hồ đeo tay sắm từ thời Pháp thuộc, ông cũng lưu luyến không muốn đổi. Ông ấy hoài cổ không chỉ với những lời thuyết minh về phố Hội…
TN Online – Hứa Xuyên Huỳnh
Không có bài viết liên quan.
]]>Ngày 30 tháng chạp Âm lịch có lẽ là ngày bận rộn nhất của mọi gia đình Bàn thờ gia tiên nghi ngút khói hương. Xuất phát từ niềm tin rằng những người đã khuất bóng sẽ về ăn Tết nên ngày 30 thường tổ chức lễ cúng rước ông bà. Trên bàn thờ gia tiênlúc nào cũng có ly nước để súc miệng và nhiều thiếp giấy vàng bạc để ông bà “tiêu tết”.

Khi đến thăm viếng bất cứ nhà nào, việc đầu tiên của khách là đến bàn thờ thắp nén hương để vái chào tổ tiên gia chủ trước khi vào đàm đạo với người trong gia đình. Con cháu đi làm ăn xa hoặc có gia đình ra ở riêng thì ngày 30 phải về cha mẹ hay nhà từ đường để cúng rước ông bà. nếu vắng mặt thì sẽ mang tội bất hiếu.
Khi tiếng trống giao thừa gióng lên, thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, giữa âm và dương, cũng là lúc mọi người gác bỏ mọi âu lo, toan tính ngày thường, hướng lòng mình vào vũ trụ vô biên, sống với cả tâm linh huyền nhiệm. Trước và sau giao thừa vài phút, nhà nhà đều làm “lễ cúng giao thừa” hay “cúng đầu năm”. Lễ cúng này rất đơn sơ, chỉ có hoa quả, bánh mứt, không dùng rượu và thịt cá, và thường diễn ra ở ngoài sân, ở trước hiên nhà, nơi có thể nhìn thấu cả đất trời. Lễ cúng giao thừa không nhằm tới một vịt hánh cụt hể nào cả mà hướng về tất cả những thế lực siêu nhân vô hình, cầu mong cho năm mới an khang thịnh vượng. Cúng xong, người ta thường vãi gạo, muối ra khắp bốn phương, tám hướng, ngụ ý tặng lương thực, thực phẩm cho những vong hồn không nơi nương tựa, đèn nến lung linh khắp phố, khói hương trầm lan toả thơm ngát đất trời, hướng mọi tâm hồn về chí thiện…
Mồng một Tết là ngày tảo mộ. Mọi người đều diện bộ áo quần đẹp nhất, mới nhất. Giờ phút thiêng liêng, đầu ănm bao giờ cũng được dành cho những người đã sinh thành ra mình với tấm lòng biết ơn vô hạn. tại các nghĩa trang, người người chen chúc, khói hương mù mịt, các nấm mồ được dọn dẹp sạch sẽ và thơm mùi nước vôi hay mùi sơn mới. Đây là dịp để cá vị cao niên chỉ bảo, dặn dò cho con cháu nơi an nghỉ của tổ tiên, những điều phải trái của đạo làm người và không bao giờ quên nguồn cội.
Mồng hai và mồng ba Tết là ngày của họ hàng , bạn bè thân thuộc . Đây là dịp để bà con gặp lại nhau hàn huyên tâm sự sau một năm tất bật chuyện làm ăn và chúc cho nhau những lời đẹp đẽ, tốt lành nhất. Tình gia tộc, tình bằng hữu cúng nhân dịp này mag hàn gắn nảy nở, duy trì.
Về chuyện ăn uống trong ngày Tết, người Hội An rất sành ẩm thực. Có những món ăn ngon, lạ miệng mà chỉ Hội An mới có. Người Hội An chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc qua mấy thế kỷ làm ăn buôn bán với người Hoa cho nên có nhiều món ăn không thuần tuý của người Việt, tiêu biểu như món cao lầu, mì hoành thánh, bánh tổ.. Vào ngày Tết người Hội An phải làm thật nhiều bốn loại bánh : bánh tét, bánh tổ, bánh nổ, bánh in, nhưng xem ra bánh tổ được nâng lên hàng đầu . Ngày tết ở đây còn có món chè đậu đen đặc quánh, xôi đậu đen ngọt lự, bánh bột đậu xanh thơm ngon, bánh su sê hấp dẫn… Tuy nhiên, món ăn mặn được người Hội An ưa thích nhất , nhà nào cũng dàng món bánh tráng cuốn với thịt heo luộc và rau sống , chấm với nước mắm Nam Ô, ngon hết ý . Ngoài ra người Hội An còn thích món giò heo hầm với thuốc bắc hay hầm với đậu đen , thịt kho tàu, mạc nạm (một loại bò kho địa phương)…
Tết Hội An kết thúc vào khoảng mồng bốn hoặc mồng năm khi mọi nhà dã làm lễ cúng “tiễn ông bà “ về cõi vĩnh hằng.
Hoàng Lê – Báo Thương Mại – Xuân Giáp Thân
Không có bài viết liên quan.
]]>