Related posts:

Nhiều du khách thích chụp ảnh lưu niệm với đèn lồng hình trái tim và logo Hội An (đèn dự thi của KS Vĩnh Hưng)
Đến Hội An vào những ngày này, du khách sẽ phải cực nhọc đôi chút khi phải đi trong phố cổ đông đúc, không như thời gian yên ắng vốn có của nó. Tuy nhiên, dịp này cũng là dịp để người ta thấy được cảnh tấp nập, cúng bái, lễ hội, đúng như sự nhộn nhịp của nó từ mấy trăm năm trước đây. Nếu có ý định đến Hội An, bạn cũng nên thử một lần trải nghiệm Tết Nguyên tiêu tại nơi này.
Không có bài viết liên quan.
]]>Hiện nay, công tác quảng bá giới thiệu về lễ hội lần thứ hai, Tết Canh Dần – 2010 đang được xúc tiến mạnh mẽ. Nét mới của lễ hội lần thứ hai là đối tượng dự thi được mở rộng ra ngoài thành phố và tổ chức thêm cuộc thi nghệ thuật sắp đặt đèn lồng. Hội An đã chọn 6 địa điểm để trưng bày giới thiệu nghệ thuật sắp đặt đèn lồng.
* Thời gian: Từ đêm 13 đến đêm 27/02/2010 (nhằm 30 Tết đến đêm 14 tháng Giêng-Tết Nguyên tiêu Canh Dần)
* Địa điểm: Khu Phố cổ Hội An.
** Cuộc thi nghệ thuật sắp đặt Đèn lồng
- Địa điểm: Trong phố cổ, Vườn tượng An Hội, trên sông Hoài.
Video Hoi An Lantern Festival
** Khai mạc Hội thi (kết hợp Hội đón Giao thừa Canh Dần)
Sự kiện đường phố “Tôn vinh đèn lồng và Chúc Xuân”, Biểu diễn nghệ thuật, Hội hoa đăng, Bắn pháo hoa, …
- Địa điểm: Đường phố, Sông Hoài.
** Chương trình Bế mạc Hội thi ( kết hợp Hội Tết Nguyên tiêu Canh Dần)
- Địa điểm: Quảng trường Sông Hoài.
Related posts:
7g30: Hướng dẫn viên đón quý khách tại điểm hẹn, đưa đến nhà một hộ dân ở làng chài Thanh Nam.
8h00 – 11g00: Du khách cùng ngư dân đi làm nghề lưới bén bằng thuyền, học và làm rớ chồ.
11g00 – 14g00: Du khách cùng gia đình làm cơm và dùng cơm trưa với các sản phẩm vừa đánh bắt được trên sông.
14g00 – 16g30: Du khách học vá lưới, theo ngư dân đi vải chài đánh bắt cá trên sông.
16g30: Du khách tạm biệt gia đình, theo hướng dẫn viên trở về điểm hẹn.
Related posts:
Liên hệ:
Tất cả các điểm hướng dẫn tham quan du lịch, đặt vé ở Hội An hoặc chính khách sạn bạn đang ở.
Related posts:
Tại đây, bạn sẽ cảm nhận một nét riêng mà ít thấy nơi nào có được.

Và được làm từ gỗ - như những kiệt tác của làng Mộc Kim Bồng một thời đã góp phần xây dựng kinh đô Huế
Hẹn gặp lại ở một dịp khác, chúng tôi sẽ giới thiệu tường tận những nơi thú vị khác…
Không có bài viết liên quan.
]]>“Bí mật” quanh giếng cổ
Bên cạnh một số loại hình di tích như nhà cổ, đình, chùa, cầu, lăng, miếu, mộ… giếng cổ là một phần không thể thiếu của di sản văn hóa vật thể Hội An, góp phần tạo nên những nét đặc trưng riêng cho phố cổ.
Hầu hết các giếng cổ ở Hội An phân bố ở bờ bắc sông Đế Võng (thuộc thôn 5, thôn 6 xã Cẩm Thanh và khối 4, phường Thanh Hà). Vị trí các giếng này thông thường cách sông 50 – 150 m, nhiều giếng cách sông chỉ 5 -10 m.
Nếu như ở vùng ven, giếng nằm trong các nhà dân và phổ biến giếng hình tròn thì tại khu phố cổ xuất hiện nhiều giếng hình vuông hoặc trên tròn dưới vuông. Chúng nằm trong các di tích tín ngưỡng như: Hội quán, nhà thờ tộc, đình, miếu của người Hoa Minh Hương, Hoa Ngũ Bang.
Theo thống kê của TTBTDT Hội An, ở đây tồn tại 3 kiểu giếng cơ bản: Hình tròn (63%), hình vuông (17%), trên tròn dưới vuông (15%), số ít còn lại là các hình dạng khác.
Những giếng cổ ở Hội An có niên đại xây dựng không đồng nhất, hình thành ở nhiều thời điểm khác nhau. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, kiểu giếng vuông và trên tròn dưới vuông là giếng người Chăm, được xây dựng từ trước thế kỷ XV. Khi người Việt đến cư trú tiếp tục sử dụng nhằm phục vụ nhu cầu của mình. Số khác thì người Hoa và người Việt kế thừa kỹ thuật của người Chăm mà xây nên.
Tuy có nhiều kiểu dáng khác nhau, nhưng tất cả các giếng có chung đặc điểm trong xây dựng đó là có khung gỗ hình vuông (gỗ lim) ở dưới thành gạch, luôn ngập trong nước. Khung gỗ này giữ vai trò quan trọng đảm bảo tuổi thọ của giếng, giữ cho thành giếng ổn định lâu dài không bị sụt lún (vì thổ nhưỡng ở đây chủ yếu là đất cát). Thành giếng là những viên gạch được xếp chồng lên nhau, không có vữa kết dính tạo ra những khe hở cho nước trong lòng đất chảy vào giếng để duy trì mực nước của giếng luôn cao. Đặc biệt, trên các giếng này đều có các bàn thờ để thờ tự.
Ông Nguyễn Chí Trung, giám đốc TTBTDT Hội An cho rằng: “Đây là một yếu tố tâm linh của cư dân phố cổ. Họ quan niệm rằng mỗi chiếc giếng có một vị thần bảo hộ nên nguồn nước mới được trong mát quanh năm”.
Phu nước giếng cổ
Nước giếng cổ trong mát là “đặc sản” của phố cổ Hội An. Không những vậy, có thể coi nước giếng cổ là “đặc sản tạo nên những đặc sản”. Tuy nằm gần sông nước mặn như vậy, nhưng nguồn nước giếng cổ luôn mát ngọt tự nhiên, mực nước luôn cao và ổn định kể cả những ngày nắng hạn.
Bà Nguyễn Thị Sương (77 tuổi), sống cạnh giếng cổ Bá Lễ cho biết: Thời còn chiến tranh chống Pháp và Mỹ, những anh lính Tây khi đặt chân đến Hội An chỉ sử dụng nước giếng cổ để sinh hoạt. Họ thuê người dân chở nước về dùng. Nghề chở nước giếng thuê có lẽ bắt nguồn từ đó.
Có một điều thú vị là tất cả những đặc sản của phố cổ như Cao Lầu, Mỳ Quảng… đến những món ăn, đồ uống dân giã như cơm, cháo, cà phê, chè… đều sử dụng nước giếng cổ này để chế biến.
Hằng ngày, anh đi làm từ lúc 5-6 giờ sáng, tối 7 giờ mới về nhà. Trung bình mỗi ngày anh chở 60-70 thùng (20 lít/thùng), tùy theo khoảng cách xa gần mà mỗi thùng tiền công người thuê trả cho anh từ 2 – 5 ngàn đồng. Tính ra, trừ chi phí xăng xe, mỗi ngày anh thu nhập không dưới 150.000 đồng.
Khách hàng của anh là chủ các nhà hàng, khách sạn và rất nhiều người dân. Đặc biệt những ngày nắng nóng hay nước máy bị nhiễm mặn thì anh “chạy sô” không xuể.
Không riêng gì gia đình anh Mẹo, giếng Bá Lễ và một số giếng cổ khác ở Hội An cũng là nguồn sống của hàng trăm hộ dân gánh nước thuê khác. Bà Dương Thị Thương (trú ở tổ 4, phường Cẩm Phổ) có 20 làm nghề gánh nước thuê, đến nay gia đình cũng khấm khá cũng nhờ vào nghề gánh nước này. Bà Thương kể, một số du khách thường xuyên đặt chân đến Hội An rất “sành” thưởng thức các món ăn được chế biến bằng nước giếng cổ. Do đó, có một số nhà hàng, khách sạn dùng nước máy đánh lừa du khách là nước giếng cổ liền bị họ phát hiện bỏ đi luôn.
Tuy có nhiều giếng cổ như vậy nhưng số phận của những chiếc giếng quý này không giống nhau. Hiện tại, có những cái đã bị hoang hóa, rêu phong. Giếng còn sử dụng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong số đó, giếng Xóm Cấm ở Cù Lao Chàm đã được xếp là di tích lịch sử quốc gia. Tuy nhiên, nổi tiếng nhất có lẽ là giếng cổ Bá Lễ (ở phường Minh An, TP Hội An).
Anh Mẹo cho biết, hiện tại chỉ còn 6 người thường xuyên chở nước giếng cổ và chỉ chở nước ở giếng Bá Lễ.
Trong đó, có gia đình đã truyền nghề 3 đời như gia đình ông Nguyễn Đường và bà Nguyễn Thị Mỹ, đã ngoài 70 tuổi (ở phường Minh An). Trước đây cả 2 vợ chồng ghánh thuê, giờ bà vợ yếu nên 2 cha con ông 2 đôi quang gánh hằng ngày vẫn trung thành với nghề.
Không có bài viết liên quan.
]]>
Phố cổ Hội An nhỏ lắm và cũng yên tĩnh lắm. Vọng đến tai hầu như chỉ thấy có tiếng cười, tiếng nói của những người khách du lịch.
Vậy mà bỗng dưng đêm nay, nơi cuối con phố lại bỗng rộn ràng những âm thanh của lời ca, tiếng trống hòa trong giai điệu lả lướt của chiếc đàn nhị. Dường như toàn bộ cư dân của khu phố cổ đang tập trung tại sân chơi cũng nho nhỏ và ngập đầy sắc màu vàng xuộm hắt ra từ những chiếc đèn “măng-xông hiện đại” này. Đây là đêm hội bài chòi thường được tổ chức vào tối thứ bảy hằng tuần tại khu phố cổ Hội An.
Đêm hội bài chòi hiện nay đã trở thành một sân chơi quen thuộc của người dân Hội An. Cứ vào tối các ngày thứ bảy, mọi người lại tụ tập về khoảng sân giữa phố Hội và sông Hoài (hay còn gọi là sông Bạch Đằng) để được có những giờ phút thư giãn một cách đầy hứng khởi cho kỳ nghỉ cuối tuần. Chính sân chơi này đã đem lại chút không khí sôi nổi giúp khu phố cổ thêm phần sinh động mà vẫn không hề làm mất đi vẻ đẹp yên bình rất đặc trưng của Hội An. Vì rằng, đêm hội bài chòi vừa mang hơi thở nóng hổi của cuộc sống hiện đại, vừa chứa đựng vẻ dịu dàng, duyên dáng của một nét văn hóa truyền thống đầy ý nghĩa.
Không ai biết chính xác hội bài chòi xuất hiện vào thời điểm nào. Tuy nhiên, từ khoảng 300 – 400 năm trước đây, loại hình vui chơi này đã được tổ chức thường xuyên ở các tỉnh Thừa Thiên – Huế vào những dịp lễ hội ngày xuân. Sau đó, bởi nhiều lý do nên hội bài chòi không còn phổ biến được như trước, thậm chí là đứng trước nguy cơ “thất truyền”. Cho đến khi khu phố cổ Hội An được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, Trung tâm văn hóa thể thao Hội An đã quyết định khôi phục lại sân chơi văn hóa này tại đây, vừa để bảo tồn, vừa để quảng bá một nét văn hóa đặc sắc của dân tộc tới khách du lịch cả trong và ngoài nước.
Có thể hiểu nôm na rằng hội bài chòi là sân chơi của những ván cờ. Mỗi ván gồm có 30 quân cờ với 30 tên gọi khác nhau chia thành 10 loại thẻ gỗ (3 quân cờ là một thẻ) và người chơi sẽ được chọn mua các loại thẻ đó. Sau khi “nhà cái” phát hết thẻ cho mọi người, ván cờ sẽ được bắt đầu bằng việc rút thăm que tre có ghi tên một quân cờ. Lúc này, anh “hiệu” (người hô) sẽ dẫn dắt cuộc chơi bằng những câu hát có liên quan đến tên quân cờ ghi trên chiếc thăm đó, lần lượt cho đến khi ba thẻ tre được rút liên tiếp có tên gọi trùng với các tên quân cờ ghi trên cùng một thẻ gỗ…
Khi tham gia, nếu thấy tên quân cờ của mình được nhắc đến trong câu hát, người chơi sẽ phải hô lên và trình thẻ gỗ để được phát một lá cờ vàng, tương đương với một phần thưởng nhỏ. Nếu người chơi có được chiếc thẻ gỗ ghi tên 3 quân cờ được nêu tên liên tục, người đó sẽ đoạt được phần thưởng lớn nhất của cuộc chơi và ván cờ kết thúc… Nhiều người có thể cho rằng hình thức vui chơi này có vẻ dễ dàng và đơn giản, dựa vào sự may rủi là chính. Nhưng thực ra, ý nghĩa và cách thức chơi hội bài chòi không hẳn vậy. Và thực tế đây là một hoạt động văn hóa đáng được tôn trọng và giữ gìn.
Vì vậy, hình thức vui chơi này không chỉ có ý nghĩa giải trí đơn thuần. Đồng thời, còn có thể coi hội bài chòi chính là một sân khấu trình diễn của làn điệu dân ca đặc trưng khu nam (Nam Trung Bộ).Phần thưởng dành cho người thắng cuộc trong hội bài chòi thực ra không lớn và không mang giá trị vật chất. Thông thường, cuối mỗi cuộc vui, người thắng cuộc sẽ được nhận một chiếc đèn lồng, “đặc sản” của Hội An. Song, điều quan trọng nhất đối với người chơi hiện nay là ở chỗ họ đã có được một sân chơi văn hóa sôi nổi và đặc biệt lôi cuốn.
Trò chời bài chòi thường tổ chức ở một khoảng đất rộng hình chữ nhật, trên đó người ta dựng 10 chiếc chòi cao quá đầu người ở chung quanh, mặt quay vào giữa, bằng tre lá đơn sơ, dành cho những người tham dự cuộc chơi, mỗi người ngồi trong một chòi. Bộ bài chòi gồm 30 lá bài, dài bảy phân rưỡi và hai phân rưỡi bề ngang, trên có vẽ hình ảnh.
Trước khi bắt đầu, người tham dự đóng một khoản tiền tuỳ theo qui định và bài được chia cho mỗi người ba lá. Riêng người “hô” bài chòi – gọi là anh hiệu – giữ nguyên một bộ bài.
Để mở đầu, anh hiệu thường rao trước vài câu thơ chẳng hạn như:
Gió Xuân phảng phất ngọn tre
Hai bên cô bác lắng nghe bài chòi
Khi mọi người đã yên vị, anh bắt đầu rút từng lá bài và hô to bằng những câu thơ lục bát. Thí dụ như khi rút ra lá bài “nhứt trò” (có hình một người học trò) thì anh cất tiếng ngâm nga:
“Đi đâu cắp sách đi hoài
Cử nhân chẳng thấy tú tài cũng không”
Ai có lá bài này thì đánh vào chiếc mõ treo trong chòi, anh hiệu cho người đem lá “nhứt trò” đến giao và người đó đã có được một đôi. Chòi nào có được ba đôi trước thì thắng cuộc.
Thú chơi bài chòi không quan trọng chuyện được thua mà thú vị ở chỗ thưởng thức những câu hô trầm bổng, nhịp nhàng, du dương như nghe đọc thơ. Anh hiệu giỏi thường sáng tác ra nhiều câu thơ lục bát rất hay (câu thài) và lại khéo léo hô một cách chậm rãi khiến cho người nghe hồi hộp chờ đợi rồi đoán già đoán non đó là con bài gì.
Chính vì vậy xưa kia nhiều người nhờ tài hô bài chòi duyên dáng mà được nổi tiếng khắp làng, thậm chí khắp vùng.
Bài chòi là trò chơi xuân mang đậm tính tập thể và tính dân gian. Một ván bài có khi kéo dài cả tiếng đồng hồ. Tuy trong cuộc chơi có ăn tiền, nhưng cái chính là đề mua vui, để người chơi thả trí tưởng tượng và hy vọng của mình dựa theo lời diễn xướng của anh hiệu, mong tìm sự hên xui đầu xuân.
Một số câu thai trong hát bài chòi:
Ai đi ngoài ngõ ào ào
Hay là ông tượng đạp rào ổng vô.
(Tứ tượng)
Bậu khoe giỏi, sao chẳng chịu đi thi
Cứ ăn xó bếp, ngủ thì chuồng trâu
Bậu ơi ! Tôi chẳng ưng đâu,
Trạng gì như thế, có hầu cũng uổng công
(Lục trạng)
Biết rằng ai có mong ai
Sao trời lại nở rẽ hai thế này
Có sao Hôm mà chẳng có sao Mai
Hai đàng hai đứa, tình phai, hoa tàn
(Bánh hai)
Bước vô nhà xin cất tiếng hỏi thăm
Cớ sao giọt lụy ướt đầm gối loan
(Chín gối)
Chầu rày đà có trăng non
Để tôi lên xuống có con em bồng
(Bát bòng)
Chiều chiều vác cuốc đào lươn
Bùn trơn, lươn trợt, người thương đâu rồi
(Ngũ trợt)
Chồng nằm chính giữa
Hai vợ hai bên
Lấy chiếu đắp lên
Hô là ba bụng
(Ba bụng)
Còn duyên, làm cách làm kiêu
Hết duyên bí thối, bầu thiu ai thèm
(Nhì bí)
Còn duyên mua thị bán hồng
Hết duyên buôn mít cho chồng gặm xơ
Gặm xơ, rồi lại gặm cùi
Còn ba, bảy hột để lùi cho con
(Bảy hột)
Còn đâu nay thiếp, mai chàng
Ghe lui khỏi bến, dấu dầm nằm đây
(Sáu ghe)
Đang ngồi bực lỡ thả câu
Chẳng may rớt xuống vực sâu cái ầm
(ông ầm)
Đầu rồng, đuôi phụng, cánh tiên
Ngày năm bảy vợ, tối ngủ riêng một mình
(ba gà)
Đêm nằm gối gấm không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em
(Chín gối)
Đi đâu mang sách đi hoài
Cứ nhân không thấy, tú tài cũng không
(Nhứt trò)
Đò em đưa rước bộ hành
Thuyền nan một chiếc tử sanh trọn bề
Trải qua bãi hạc, gành nghê
Quanh năm chèo chống, tư bề sóng xô
Tiếng ai văng vẳng gọi đò
Mau mau nhổ nọc, chèo qua đón người
(Nhứt nọc)
Đôi ta như đũa mới so
Không chọn mà gặp, không đo mà đều
Phải duyên, đã quyết thì liều
Cầm bằng con trẻ chơi điều đứt dây.
(Tám dây)
Đời bây giờ, võ nghệ huyên thuyên,
Không ai gióng được ngọn quyền cho thông.
(Tứ gióng)
Em thương anh, cha mẹ cũng phải theo
Chiếc ghe buồm đang chạy, quăng neo cũng phải ngừng.
(Tam quăng)
Hai tay bụm cát đáp mồ,
Tay bồng con dại, nước mắt hồ láng lai.
(Bát bồng)
Làm thân con gái chẳng lo,
Sáng mai ngủ dậy, ra đo mặt trời,
Quần áo thì rách tả tơi,
Lấy rơm mà túm, mỗi nơi mỗi đùm.
(Ngũ trưa)
Lòng thương chị bán thịt heo,
Hai vai gánh nặng còn đèo móc cân.
(Tứ móc)
Một, anh để em ra,
Hai, anh để em ra,
Về em buôn, em bán
Em trả nợ bánh tráng,
Em trả nợ bánh xèo.
Còn dư, trả nợ thịt heo.
Anh đừng cầm em nữa,
Kẻo mang nghèo vào thân.
(Nhì nghèo)
Một chàng, hai thiếp khó phân,
Anh về nghĩ lại đề cầm cân cho bằng.
(Ba bụng)
Một, hai bậu nói rằng không,
Dấu chân ai đứng bờ sông hai người ?
(Tứ cẳng)
Nam mô, hai chữ từ bi,
Phật còn mê gái, huống chi thầy chùa.
(Cửu chùa)
Ngày thường thiếu áo thiếu cơm,
Đêm nằm không chiếu, lấy rơm làm giường.
Dù dơi, dép bướm, chật đường,
Màn loan, gối phượng, ai thương kẻ nghèo ?
(Nhì nghèo)
Ngó lên hòn núi Chóp Vung,
Thấy bảy cô gái cùng chung một nhà.
(Thất vung)
Ngồi buồn nghĩ giận quân Tây,
Đem thân đi lính, xe dây buộc mình.
Phương trời, góc bể lênh đênh,
Biết người xưa có thấu tình cho chăng ?
(Tám dây)
Ơn cha nghĩa mẹ chưa đền,
Như gà quẹt mỏ, chẳng nên con người.
(Ba gà)
Rủ nhau đi đánh bài chòi
Để Cho con khóc đến lòi rún ra.
(Chín rún)
Tay cầm quyển sách bìa vàng,
Sách bao nhiêu chữ, thương nàng bấy nhiêu
(Nhứt trò)
Tay em đã trắng lại tròn
Không cho anh gối, sao mòn một bên.
(Chín gối)
Cứu con vua Thủy một mình dưới hang.
(Thái tử)
Thấy nàng, anh cũng muốn thương .
Sợ e “nhất mã lưỡng cương” (l) khó cầm.
(Bánh ba)
Thuyền ai thấp thoáng bên bờ,
Hay thuyền ông Lữ đợi chờ con vua ?
(Thái tử)
Tiếc công bỏ mẳn nuôi cu,
CU ăn, cu ]ớn, cù gù, cu bay.
Cu say mũ cả, áo dài,
Cu chê nhà khó, phụ hoài duyên anh.
(Chín cu)
Tới đây, giã gạo, ăn chè,
Ai mà không giã, ngồi hè trật ăn.
(Ngũ trật)
Trời mưa lộp độp sân đình,
Anh đi cho khéo, trợt uỳnh xuống đây.
(Chín trợt)
Vợ đôi chồng một ra gì,
Mỗi người mỗi bụng, ở thì sao nên.
(Ba bụng)
Xét ra cho kỹ sự đời
Ba người, ba bụng, không ai thời giống ai.
(Ba bụng)
Xưa kia ai biết ai đâu,
Bởi chưng miếng thuốc, miếng trầu nên thương.
Vì tình mà dạ vấn vương.
Bốn phương, tám hướng, nàng nương miếu nào ?
(Tám miếu)
Không có bài viết liên quan.
]]>Người dân Cù Lao Chàm thường gọi Lodovico Ruggeri bằng cái tên thân mật: Lô-Đô. Ông đến Việt Nam từ năm 2001. Xuôi ngược từ Bắc đến Nam, năm 2004, Lô-Đô mới ghé Hội An và nhanh chóng “bén duyên” với vùng đất này.
Thật ra, vào thời điểm đó, một người Ý như Lodovico Ruggeri quyết định gắn bó với đô thị cổ là chuyện không dễ dàng gì. Với ông, mọi thứ gần như phải bắt đầu từ số không. Đầu tiên là tự học tiếng Việt qua người dân và những nhân viên du lịch. Sau khi tham quan, khảo sát kỹ lưỡng khu vực đô thị và các vùng lân cận, ghi nhớ tỉ mỉ từng chi tiết về con người, điều kiện tự nhiên, Lô-Đô phát hiện Cù Lao Chàm, là nơi “có điều kiện đặc biệt, khác biệt và khả thi”, để kinh doanh du lịch.
Qua nhiều người nước ngoài mà ông quen biết và tự tìm hiểu tư liệu, sách báo, Lô-Đô quyết tâm chọn vùng biển này để kinh doanh du lịch, nhất là dịch vụ lặn biển. Ông từng tới Nha Trang, Vũng Tàu, Huế, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hạ Long để tìm hiểu nhưng không nơi nào “có bãi tắm lớn, đẹp; nhiều gió và nhiều san hô như Cù Lao Chàm”.
| “Tôi ở đây và sẽ không đi bất cứ đâu nữa để đầu tư cho dịch vụ của mình. Tôi muốn có đất tại đảo để xây dựng một khu bungalow, đấy sẽ là nơi lý tưởng cho lặn biển và nhiều dịch vụ khác”. Lodovico Ruggeri |
Trò chuyện bằng tiếng Việt, đôi lúc dùng tiếng Anh để diễn tả những từ “khó”, Lô-Đô đã chứng tỏ vốn hiểu biết khá cặn kẽ về Cù Lao Chàm, khi thông tin: vùng biển này có tới 165 rạn san hô và 500ha thảm cỏ biển với nhiều loại hải sản quý hiếm sinh sống. Tài liệu khảo sát đa dạng sinh học khi xây dựng Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm cho thấy ở đây có đến 135 loài san hô thuộc 35 giống. Dù không phải là chuyên gia nghiên cứu về đa dạng sinh học, nhưng ông nắm rất rõ tại Cù Lao Chàm có 6 loài san hô và nhiều loài cá, tôm, nhuyễn thể được ghi nhận lần đầu tiên xuất hiện tại vùng biển Việt Nam và ghi trong Sách Đỏ Việt Nam.
Lô-Đô nói: “Tôi không ngạc nhiên khi UNESCO công nhận nơi đây là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Bạn biết, năm nay, khách đến Cù Lao Chàm và tham gia dịch vụ của chúng tôi rất đông, thậm chí nhiều hơn cả Nha Trang. Đơn giản vì chúng tôi biết cách làm và tại Hội An, bạn có thể lặn sâu đến 30m, Nha Trang và các nơi khác thì không”.
Tại phố cổ Hội An, ngôi nhà cổ số 88 đường Nguyễn Thái Học, là trụ sở của Công ty Hải Bàn, do Lô-Đô làm giám đốc. Công ty có 20 nhân viên gồm nhiều người nước ngoài có quốc tịch khác nhau, được đào tạo theo chuẩn quốc tế về tổ chức lặn biển và trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật cho du khách lặn nông, lặn sâu xem san hô dưới lòng biển. Lô- Đô nói: “Cá nhiều, có thể lặn sâu là hai trong nhiều yếu tố tạo nên sự khác biệt cho dịch vụ lặn biển tại Cù Lao Chàm. Hơn nữa, môi trường kinh doanh tại Hội An khá thuận lợi, môi trường trên đảo cũng khá tốt”.
Mặc dù phải tạm dừng tổ chức dịch vụ sớm hơn mọi năm do ảnh hưởng của cơn bão số 9, nhưng theo Lô- Đô: “Chúng tôi đang bắt tay khắc phục những khó khăn sau bão. Tôi mong địa phương sẽ hỗ trợ cho dân trên đảo ổn định cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp hoạt động. Về phần mình, chúng tôi sẽ cùng với người dân và chính quyền thực hiện tốt hơn nữa việc bảo vệ môi trường trên đảo. Đó là vấn đề cốt lõi cho tính lâu dài và ổn định”.
Chia tay với người đàn ông mang quốc tịch Ý, điều khiến người viết ấn tượng nhất chính là đôi mắt sâu và ánh nhìn xa xăm sau gọng kính. Thì ra, đấy cũng là ánh mắt thường thấy của những cư dân “ăn sóng, nói gió” giữa lòng đại dương.
Theo Báo Quảng Nam
Related posts:
Đô thị cổ nằm bên bờ sông Thu Bồn, cách biển đông không đầy 5km này trở thành một điểm đến được đánh dấu son trên bản đồ du lịch Việt Nam. Đến Hội An, bao bộn bề để lại bên ngoài đô thị cổ, thời gian chầm chậm trôi theo từng bước chân người lữ khách lang thang.
Này là phố cầu Nhật Bản, này là phố cũ Quảng Đông, này là phố chợ Cũ hay Minh Hương, Khải Định… Cho dù đã khoác trên mình cái tên mới thì vẫn là những khu phố cổ với bao đình đền, miếu thờ, hội quán, nhà cổ, vẫn là những con đường níu chân người bởi cái hồn xưa cũ cứ lẩn khuất khắp không gian. Không còn là một thương cảng sầm uất và rực rỡ trong quá khứ, Hội An giờ đây chỉ là một đô thị cổ trầm tư lắng mình bên dòng sông Hoài thơ mộng, luôn gợi lên trong tâm hồn tôi những hoài niệm không lời.
Tôi thích cảm giác được bách bộ một mình trong những con ngõ nhỏ, ngắm nhìn cuộc sống bình dị của dân địa phương nơi này - những con người đã được biết đến và yêu quý bởi vẻ thân thiện và hồn hậu trong giao tiếp với du khách.
Nắng lên vàng óng khiến những hội quán, nhà cổ, đường ngang, lối xóm trở nên rực rỡ dưới nền trời xanh. Các gian hàng bán đèn lồng, lụa tơ tằm, hàng thủ công truyền thống cũng lung linh và nhiều sắc màu hơn.
Chiều xuống phố cổ trở nên huyền ảo bởi sự đan xen của ánh sáng và bóng tối. Không khí hoài niệm và sâu lắng luôn cuốn tôi vào sự thanh thản và bình an trong tâm hồn. Vào những ngày rằm Hội An sẽ tắt đèn điện, và thay vào đó người dân sẽ thắp lên những ngọn đèn lồng và ánh nến, đem lại cho khu đô thị cổ một vẻ hấp dẫn lạ lùng. Được sánh vai với bạn bè hay người yêu trong một vài đêm như vậy, hẳn sẽ là những kỷ niệm dịu ngọt trong đời.
Mỗi lần đến và đi tôi đều cố lưu giữ cho mình những mảnh màu Hội An qua những tấm hình, vì tôi không thể biết mai này Hội An có còn như những ngày tôi đã tới và qua…
Bài, ảnh: N.V.C. – Tuổi trẻ Online
Không có bài viết liên quan.
]]>