Từ phở đến bún, món ăn Việt Nam ngon nhất khi bạn ngồi húp xì xụp, nhai rào rào trên một chiếc ghế nhựa… 40 món ngon Việt Nam vừa được chuyên trang về tin tức, du lịch châu Á của CNN - giới thiệu.
Ẩm thực Việt Nam không giành điểm vì sự phức tạp. Nhiều trong số những món ăn phổ biến nhất có thể được nấu ngay bên vệ đường cũng ngon lành như trong một nhà hàng thượng hạng. Nhưng chính sự đơn giản này, các biến thể món ăn tinh tế theo vùng và nguyên liệu tươi xanh khiến chúng ta cứ muốn ăn thêm nữa.
1. Phở
| Phở bò – Ảnh: Nhahangvannam.com |
Danh sách món ăn Việt Nam nào sẽ hoàn thiện nếu thiếu phở? Gần như không thể đi bộ qua một khối nhà ở các thành phố lớn của Việt Nam mà không gặp một đám đông khách quen đói meo đang xì xụp tại một hàng phở bình dân. Nguyên liệu chính đơn giản gồm có nước dùng đậm đà, bánh phở tươi, một chút rau thơm và thịt gà hoặc thịt bò. Món ăn này ngon, rẻ và bạn muốn ăn bất kỳ giờ nào trong ngày cũng có.
Ăn đâu: Phở Thìn, 13 Lò Đúc, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
2. Chả cá
| Chả cá Lã Vọng – Ảnh: Angichoigi.com |
Đối với người Hà Nội, chả cá đặc biệt đến mức có hẳn một con phố ở thủ đô dành riêng cho những miếng cá rán này – phố chả cá. Con phố cùng tên là nơi bạn có thể thưởng thức chả cá Lã Vọng – những miếng cá ướp tỏi, gừng, nghệ và thì là xèo xèo trên một chiếc chảo nóng.
Ăn đâu: Ngoài phố chả cá, du khách có thể đến phố Đường Thành, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
3. Bánh xèo
| Bánh xèo – Ảnh: Zing.vn |
Một chiếc bánh xèo ngon phải giòn, phồng lên với nhân tôm, thịt heo, giá đỗ và trang trí bằng rau thơm tươi. Đó là đặc trưng của hầu hết các món ăn Việt Nam đích thực. Để thưởng thức như một người dân địa phương, hãy cắt bánh thành những miếng nhỏ vừa miệng, cuộn trong bánh tráng hoặc lá rau diếp và nhúng nó vào thứ nước chấm đặc biệt đầu bếp pha cho bạn.
Ăn đâu: Bánh xèo, 46A Đinh Công Tráng, quận 1, TP.HCM.
4. Cao lầu
| Cao lầu – Ảnh: Hoian.vn |
Món mì thịt heo của Hội An khá giống món ăn của các nền văn hóa khác đã ghé thương cảng này thuở xưa. Sợi mì dày hơn tương tự mì udon của Nhật Bản, bánh vằn thắn giòn và thịt heo khiến người ta liên tưởng đến món ăn Trung Quốc, còn nước dùng và rau thơm thì rõ ràng rất Việt Nam. Cao lầu đích thực chỉ được nấu bằng nước lấy từ giếng Bá Lễ ở địa phương.
Ăn đâu: Morning Glory, 106 Nguyễn Thái Học, Hội An.
5. Rau muống
| Rau muống xào – Ảnh: Ducphatrestaurant.vn |
Rau muống thường được xào với tỏi, là món ăn phổ biến tại các nhà hàng và… quán bia Việt Nam.
Ăn đâu: Bia Hơi Chùng Đen, 18B Hàng Cót, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
6. Nem rán/chả giò
| Nem rán/chả giò – Ảnh: Giadinh.net.vn |
Nem có vỏ giòn và nhân là rau mềm trộn thịt, “nhúng” trong nước chấm thơm ngon, được dùng trước khi ăn món chính. Ở miền Bắc, những “gói” này có tên là nem rán trong khi người miền Nam gọi đó là chả giò.
Ăn đâu: 1 Hàng Mành, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
7. Gỏi cuốn
| Gỏi cuốn – Ảnh: Camnanggiadinh.com.vn |
Gỏi cuốn là lựa chọn lành mạnh khi bạn đã thỏa thích thưởng thức quá nhiều đồ ăn rán ở Việt Nam. Những chiếc gỏi cuốn trong suốt trước tiên được gói với rau xà lách, một lát thịt hoặc hải sản và một lớp rau mùi, sau đó cuộn gọn lại và chấm trong gia vị yêu thích của người Việt Nam – nước mắm.
Ăn đâu: Quán ngon, 18 Phan Bội Châu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
8. Bún bò Huế
| Bún bò Huế – Ảnh: Amthuc365.vn |
Món bún của miền Trung Việt Nam có nước dùng thịt và nhiều thịt bò, thịt lợn. Sợi bún trơn, dày cũng làm nên một bữa ăn thịnh soạn hơn các món mì ở miền Bắc và miền Nam.
Ăn đâu: Bạn không cần phải đến Huế để thưởng thức món ăn này, nếu ở TP.HCM, hãy thử đến Tib Express, 162 Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, TP.HCM.
9. Bánh khọt
| Bánh khọt – Ảnh: Vungtaudulich.com |
Vỏ bánh giòn được làm bằng bột pha nước cốt dừa và nhân thường bao gồm tôm, đậu xanh, hành tươi với một lớp tôm khô ở trên.
Ăn đâu: Cô Ba Vũng Tàu, 59B Cao Thắng, quận 3, TP. HCM.
10. Gà tần
| Gà tần – Ảnh: Picasaweb |
Gà tần có màu xanh lục của các loại thảo mộc và những miếng thịt các bộ phận của con gà, rất đáng nếm thử nếu bạn đang cần một món bổ dưỡng.
Ăn đâu: Hãy thử món này ở một trong các quầy hàng rong trên đường Tống Duy Tân hay còn gọi là phố ẩm thực của Hà Nội, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Ngoài 10 món trên, 30 món còn lại trong danh sách là: Nộm hoa chuối. Bún bò Nam bộ, Hoa quả dầm, Phở cuốn, Gà nướng, Phở xào, Cà phê trứng, Bò lá lốt, Xôi, Bánh cuốn, Cà tím kho tộ, Bột chiên, Bún đậu mắm tôm, Bánh gối, Cơm sườn nướng, Cháo, Bò lúc lắc, Hạt dẻ nóng, Bánh ướt thịt nướng, Bún chả, Bánh mì, Lẩu, Bánh bao, Cơm rang, Bò bít tết, Cơm chay, Chè, Mì xào bò, Đậu phụ sốt cà chua và Canh bún.
THƯỜNG NGA (Theo CNN)
Related posts:
Địa điểm:
Nhà Hàng Lương Gia. 34 – Lê Lợi – Hội An
Điện thoại: (0510) 3911899
Giờ mở cửa: từ 07:00 đến 22:00
Không có bài viết liên quan.
]]>Ngày nay khi nói đến Mỳ Quảng ở Hội An hay ở Quảng nam không nhất thiết là nói đến món ăn đặc sản của Quảng Nam – Đà Nẵng mà là nói đến một món ăn đặc trưng của người miền Trung nói chung.
Related posts:
Do có hình dáng nhỏ nhỏ, xinh xinh và có màu trắng trông như những đoá hoa hồng nên bánh bao bánh vạc còn có tên gọi là White Rose (hoa hồng trắng). Đây là món ăn khá phổ biến trong thực đơn của các nhà hàng, quán ăn ở Hội An.
Nguyên liệu chính để chế biến bánh bao bánh vạc là gạo nhưng được thực hiện qua nhiều công đoạn rất công phu. Gạo xay xong phải “bòng” với nước nhiều lần (khoảng từ 15 đến 20 lần) để chọn cho được loại bột bánh ngon. Nhân bánh bao chủ yếu chế biến từ tôm tươi xay nhuyễn trộn với muối, tiêu, hành và một vài loại gia vị khác. Nhân bánh vạc thì có thêm một số nguyên liệu như: nấm mèo, giá hột, lá hành, thịt heo … đã được thái mỏng và xào chín. Cả hai loại nhân đều được bao bọc bởi một lớp bột bánh mỏng và hấp chín qua lửa.
Hiện nay, tại Hội An chỉ còn có một gia đình trên đường Nhị Trưng sản xuất loại bánh này để cung cấp cho các nhà hàng, quán ăn phục vụ thực khách. Còn nhà hàng phục vụ loại bánh này cho du khách thì vô số.
Related posts:
Nước chấm của bánh xèo cũng được chế biến khá kỷ lưỡng. Người ta dùng nước tương trộn với gan heo, mè, đậu phụng xay nhuyễn, sau đó dùng dầu tô chín và pha thêm ít bột gạo, gia vị để làm thành một loại nước chấm lạ miệng.
Related posts:
Nhiều người cũng có tham vọng làm cao lầu ở nơi khác, nhưng tất cả đều thất bại. Có người nói rằng chính nước giếng Bá Lễ và tro của cù lao Chàm và rau sống Trà Quế mới làm nên món ẩm thực đặc trưng này.
Một đặc trưng khác của cao lầu là muốn ăn món này phải leo lên lầu cao của quán. Khi xưa các doanh nhân buôn bán nơi phố cảng vì muốn trông coi hàng hóa của mình nên thường leo lên lầu cao của quán. Điều này có thế thấy ở các quán cao lầu Hội An. Ngồi trên lầu cao ngắm cảnh đẹp và thưởng thức món ngon, đây có thể là xuất phát của tên gọi cao lầu.
Ngày nay cao lầu có ở Pháp, Anh, Úc hay Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn nhưng nhiều người ăn vào vẫn thấy như không phải. Thậm chí cao lầu được làm ở Hội An, gửi máy bay đến các nơi nhưng dường như ăn ở Hội An thì mới đúng điệu cao lầu.
Related posts:

Cơm gà Hội An - Đặc sản nổi tiếng cả nước - Món này có thể ăn tại các tiệm cơm trên đường Phan Chu Trinh - Cạnh phố cổ

Xí mà Hội An - Trước đây ông già hay gánh đi khắp nơi nhưng do tuổi cao sức yếu, ông ngồi tại một nơi tĩnh lặng ở đường Nguyễn Trường Tộ - Ông bán lúc 6h sáng sớm đến 10h thì hết gánh

Bánh ít lá gai - Được bánh ở chợ Hội An hoặc một số nhà dân ở đường Nguyễn Trường Tộ và Lý Thường Kiệt - Còn gọi là Bánh ít Cù Lao Chàm

Bánh xèo Hội An - Tìm thấy nhiều nơi tại Hội An khi mùa mưa đến - Ngày bình thường có thể ăn tại Phố ẩm thực hoặc các nhà hàng Phố cổ
Related posts:
“Nhưng mà cậu hỏi tuổi của tôi để làm chi chứ? Nhiều người cứ nói Hội An 500 tuổi, rồi 400 tuổi, sai hết. Di sản làm gì có tuổi? Tôi cũng cổ như Hội An đây. Có điều tôi chưa được công nhận là di sản thôi!”.
Múc xong chén chè cho một người mẹ trẻ, ông ngước nhìn tôi, thật hóm: ” Còn hỏi chi nữa không?”. “Dạ thưa, có người gọi bác là “ông lão xí mà”. Sao lại là xí mà hả bác?”. Ông cười. Còn đúng hai chiếc răng. “Riêng cái tên nớ thì đúng. Xí mà là thứ mà nãy giờ cậu ăn đấy. Chỉ nên biết rứa thôi. Đi giải cho được cái chữ “xí mà” ấy, khác nào đi tìm lời giải cho câu hỏi “sông Hoài có từ hồi mô?”.
Thấy tôi lớ ngớ trước cái kiểu trả lời úp úp mở mởấy, ông lão dấn tới luôn: “Còn trẻ mà chậm hiểu hè?”. Hai từ “còn trẻ” được ông kéo ra thật dài. Tôi thật bối rối trước sự đáo để của ông lão. Bụng bảo dạ: “Gặp đúng thứ thiệt Quảng Nam rồi đây”.
Mỗi ngày một gánh
Những ai từng sống ở Hội An 5-10 năm trước, chắc sẽ không quên hình ảnh này: Đúng 6 giờ sáng mỗi ngày, bất luận trời mưa hay nắng, trên các con đường của khu phố cổ, có một cụ già, gánh trên vai đôi thùng thiếc đen xỉn vì ám khói, bước những bước thật chậm rãi, không một tiếng rao, chốc chốc dừng lại để bán hàng cho khách. Đó là “ông lão xí mà”.
Đôi thùng thiếc ấy, một đầu dùng để đựng chè xí mà, đầu kia đựng chén và nước rửa, treo toòng teng nơi mút đòn gánh là chiếc bi đông đựng nước uống. Cứ hết phố này, ông sang phố khác, chậm rãi bước, lặng lẽ bán, mỗi ngày một gánh chè, đúng 60 năm. Người dân Hội An hình như đã quá quen ông lão, trẻ con cũng đã thuộc lòng giờ giấc của những bước chân chậm rãi nơi ông nên chẳng cần nghe tiếng rao, chúng cũng biết là sắp nhận được món quà độc đáo từ ông, giá đúng một ngàn.
Mỗi ngày một gánh, 60 năm là bao nhiêu gánh chè? Mỗi ngày đi qua 20 con phố, dài 10 ngàn mét, 60 năm qua, ông đã đi bộ bằng chiều dài của mấy vòng trái đất này? “Làm răng mà tôi tính cho được? Cậu nhìn vào chiếc đòn gánh kia thì biết!”. Tôi nhìn vào nơi ông chỉ. Đó không còn là chiếc đòn gánh đơn thuần nữa. Thời gian và mồ hôi của chủ nhân đã kịp dát lên đoạn tre già vô tri kia những nhọc nhằn đen bóng. Hai năm qua, khi đã sang tuổi 90, sức khỏe đã không cho phép bước chân ông lão gõ những nhịp guốc mộc quen thuộc trên các con phố cổ nữa, ông lại chọn cho mình một chỗ ngồi khá yên tĩnh trên đường Nguyễn Trường Tộ.
Vẫn mỗi ngày một gánh và bán hết trong một buổi sáng. Nếu như ngày trước, ông tìm đến khách hàng bằng những bước chân chậm rãi ấy, thì bây giờ, người Hội An lại tìm đến ông. Chốc chốc, một chiếc xe đạp dừng lại trước gánh chè. Chủ cũng không màng hỏi khách là mua bao nhiêu mà chỉ nhìn mặt rồi… múc chè cho vào túi nilon!
Tôi hỏi: “Làm sao bác biết chịấy mua bao nhiêu mà bán những hai túi?”. Ông lại đưa chiếc quạt nan lên phe phẩy: “Ba năm trước, cô nớ chỉ mua một túi. Chừ mua hai túi. Biết răng không?”. Tôi lắc đầu. Ông lão nhìn về phía người mua chè: “Đứa nhỏ một tuổi rồi phải không?”. Người đàn bà gật đầu thân thiện.
Ông lão nhìn sang tôi: “Cô ấy có đứa con thứ hai. Hai đứa phải mua hai túi. Một túi để nó đánh nhau à?”. Chị Thư – người mua chè, xác nhận: “Ông thuộc lòng từng khách một ấy mà. Hội An ni, ai ông chả biết”.
Tôi hỏi chị Thư: “Có khi nào chị mua chè chỗ khác?”. Chị nhìn tôi ngạc nhiên: “Biết mua loại chè ni chỗ mô nữa? Ở Hội An, hồi mô đến chừ, tui chỉ thấy có mỗi ông lão này là bán chè xí mà thôi. Một gánh duy nhứt, không có gánh thứ hai. Đứa trẻ mô được ăn chè của ông một lần, lần sau chớ có đổi món. Ngày mô tui cũng phải mua cho mỗi đứa con một túi”.
Cổ như phố cổ
Cứ xong một lượt khách, ông lại ngồi bất động như một thiền sư. Nếu không trò chuyện cùng ông từ trước, nhìn cái dáng ngồi ấy, chắc là tôi chẳng dám đến gần. Khuôn mặt ông phảng phất một vẻ liêu trai khó tả. Cái sương khói huyền hồ như lẫn vào đôi quang gánh, như nhập vào bộ xiêm y nơi ông. Nhìn kỹ hơn một chút nữa, tôi chợt nhận ra rằng ông đã “nhập” vào Hội An tự bao giờ không biết.
Ông “lạ” từ bộ quần áo nâu sồng may theo kiểu Tàu, đến đôi quang gánh, cả cái thứ nước chè ông mời khách cũng quá đỗi cổ xưa. Ông cẩn thận cho chè vào túi nilon, lần bàn tay nhăn nheo xuống dưới đáy chiếc thúng cũ rồi lấy ra một sợi dây lác, buộc thật chặt miệng túi, trước khi trao cho khách. Những ai ăn chè tại chỗ, ông múc ra một chiếc bát nhỏ, cẩn thận đến mức không rơi một giọt. Xong, ông lão rửa bát bằng một thứ nước rất lạ, có mùi thơm hăng hắc, mà theo cách giải thích của ông là “đừng có hỏi!”.
Khi khách mua chè đã vãn, ông bắt đầu mang tiền ra sắp xếp theo mệnh giá. Tuổi ngoài 90 rồi mà mắt còn tinh lắm. Ông tỉ mẩn cho những đồng có mệnh giá lớn hơn (cao nhất là tờ 10 nghìn) vào túi áo trên, dùng kim băng ghim lại thật chặt; còn số tiền lẻ, ông cho vào túi dưới. Ông bảo: “Để thối lại cho dễ”. Tôi ước chừng khoảng một trăm nghìn. Thế là ông lão đã thắng, ít nhất cũng kiếm được năm chục. Gần “bách niên” rồi mà ngày kiếm năm chục từ sức lao động của mình, trai tráng như tôi cũng xin bái phục.
Tôi vờ thử tài ông: “Cụ nhầm tờ 500 cho lẫn với tờ 10 nghìn kìa!”. Ông nghiêm mặt: “Đừng giỡn với lão nghe! Hơn 60 năm bán chè, lão chưa nhầm một cắc!”. Tôi tái mặt!
Người “giải mã” những bí ẩn
Định tiếp tục cuộc trò chuyện đến khi nào “moi” cho được tên ông thì thôi nhưng tôi biết, có ngồi tàn đêm đi nữa thì người thua cuộc cũng vẫn là tôi. Vừa giận, lại vừa nể ông lão.
Đang lúc bí, một người bạn ở Hội An mách cho đường đến nhà ông. Luồn sâu trong một con hẻm nhỏ trên đường Trần Hưng Đạo, tôi tiếp cận được ngôi nhà. Ra mở cổng đón khách là một cụ bà nhỏ nhắn và xởi lởi. Khác với cái cách úp úp mở mở của cụ ông, cụ bà đi thẳng vào cái mà tôi cần: “Ông tên là Ngô Thiểu, người gốc Hội An. Còn tôi quê Điện Bàn. Tôi với ông ấy gặp nhau trên 60 năm nay, mười lần sinh nhưng còn có 4 người. Tất cả đều thành đạt. Tất cả đều nhờ vào… gánh chè của ông ấy để lớn lên và học hành. Và, cũng tất cả đều không theo “nghề” của cha mẹ. Ba giờ sáng đã thức dậy rồi, thanh niên bây chừ, chịu không nổi mô!”.
Ngừng một lát, bà cụ tiếp: “Xí mà là tên gọi của người Tàu dùng để chỉ loại chè lấy mè (vừng) đen làm nguyên liệu. Cậu hỏi lai lịch của gánh chèấy à? Chuyện dài lắm. Ngày mới lấy ông, cha mẹ hai bên đều nghèo nên chẳng giúp được gì. Con cái thì cứ sòn sòn hai năm đôi. Tôi phải gánh cá chuồn tên tận thượng nguồn Thu Bồn đổi gạo nhưng vẫn cứ thiếu trước hụt sau. Một đêm, đang giữa khuya, ông bùng dậy và nói như người mộng du: “Tui nhớ ra rồi, mẹ nó ơi!”. Gặng hỏi mãi ông chẳng nói gì, chỉ thấy sáng sớm hôm sau, ông xăm xúi ra chợ mua mè đen, rau má, bồ ngót, đường bát và một cái xoong thật to rồi nhóm bếp. Gánh chè ra đời từ đó. Chẳng phải ông tự nghĩ ra đâu mà lúc nhỏ, ông ấy có đi làm công cho một gia đình người Hoa ở Hội An này và học được nghề nấu chè xí mà từ gia đình người Hoa nọ”.
Cũng theo bà cụ, sở dĩ món “xí mà” đã mê hoặc nhiều người không chỉ vì mùi vị của rau ngót, rau má hay mè đen, đường bát mà còn có một thứ khác. Bà bảo: “Ba giờ sáng đã dậy để đãi mè, lặt rau, giã thật nhuyễn rồi lấy nước cốt cho vào nồi chè. Có một điều bí mật nơi ông mà tôi không được biết. Đó là khi gánh chè chuẩn bị “lên đường”, ông móc trong túi ra cho vào nồi chè một loại thuốc bắc nào đó mà chỉ có ông mới biết mà thôi”.
Nghe cụ bà nói thế, tôi lại nghĩ vẩn vơ: Ông này cũng giống Hội An đây, vừa cụ thể, gần gũi nhưng cũng hết sức bí ẩn. Một người bạn của tôi đầy vẻ tự hào khi nói rằng ở Hội An quê anh, mỗi người dân đều giữ một phần di sản. Theo cách nghĩ của anh bạn thì cụ Ngô Thiểu , dù ở tuổi 90 nhưng vẫn gánh cái di-sản-xí-mà trên vai mỗi ngày vậy.
Xíu Mà là món ăn có nguồn gốc từ Phúc Kiến (Trung Quốc), du nhập vào Hội An (Quảng Nam) trong những năm đầu của thế kỷ trước, khi những người Hoa đến buôn bán kinh doanh. Đây là món ăn ngoài tác dụng điểm tâm thanh cảnh, còn là một bài thuốc chữa các bệnh về tiêu hóa, giải nhiệt, chống cảm nắng, suy nhược cơ thể…
Xíu Mà được làm rất công phu từ bột gạo nếp hương, nhân dừa xay nhuyễn, vừng (mè), đậu xanh, đường tinh luyện và thanh địa thuốc bắc. Khi nấu chín, Xíu Mà có màu đen sánh, mùi thơm lan tỏa.
Ở Hội An, bao năm qua cứ vào mỗi buổi sáng tại góc đường Nguyễn Trường Tộ, mọi người đều thấy một ông cụ đầu đội chiếc nón rộng vành ngồi múc từng chén Xíu Mà bán cho người dân và du khách. Đó chính là già Ngô Thiểu nổi tiếng làm Xíu Mà ở Hội An, giờ đây đã trở thành thương hiệu “Xíu Mà Ngô Thiểu”. Ông cho biết, xưa nay ở Hội An cũng có vài nhà làm Xíu Mà nhưng do nhiều lý do mà dần bị mai một thất truyền. Hơn 75 năm trước, ông đã được chứng kiến cách làm Xíu Mà từ ông nội và cha mẹ của mình. Những năm trước đây, khi còn khỏe và phải lo nhiều cho cuộc sống, già Ngô Thiểu dậy từ rất sớm để làm Xíu Mà rồi gồng gánh 2 nồi lớn đi rao bán quanh Hội An đến quá trưa mới về tới nhà. Mệt lả, nhưng ông rất vui vì đã bán được hết hàng và có những lời khen, lời dặn ngày mai lại đến từ những khách hàng. Nay đã ngoài 90 tuổi, trông ông vẫn rất khỏe khoắn. Tuy không gánh hàng đi rao bán như xưa, ông chỉ ngồi một chỗ cố định trên đường vào trung tâm phố cổ Hội An (Quảng Nam) mà người dân đến ăn và mua về vẫn rất đông đúc.
Related posts:
Muốn làm nhân tôm thịt người ta làm tôm sống, bỏ dầu, một số con đem giã dập, một số để nguyên con. Thịt ba chỉ xắt mỏng cho vào với tôm ớp gia vị rồi đa lên bếp tô cho thấm. Lại cho thêm mấy củ hành, đổ vào nồi nấu cà chua, thơm (dứa) để lấy vị thơm, ngọt cho nước lèo (nước nhưn).
Ðối với nhưn thịt gà thì sau khi đã làm sạch, chặt thành từng miếng nhỏ trộn ớp với tiêu, hành, tỏi, đa lên bếp tô cho thấm, rồi nấu thêm với các loại cà chua, thơm hành đến khi chín thành nước lèo. Nước nhưn mì không cần nhiều màu mè, không cần nhiều gia vị mà phải trong và có vị ngọt. Cái ngọt này đặc biệt khác với vị ngọt của nước phở nấu bằng xương bò, nước lèo của bún hầm xương heo.
Rau sống để ăn với mì thông thường là loại rau đắng, diếp cá, rau húng, rau quế, rau cải, hành, ngò… của vùng rau Trà Quế nổi tiếng nằm ở phía Ðông Bắc phố cổ Hội An, ăn mì Quảng phải kèm rau sống Trà Quế mới thật đúng “tông”. Chỉ có rau ở vùng này mới thể hiện hết cái nhiều mùi vị hương thơm: cay, chát, ngọt, đắng… làm tăng thêm hương vị của tô mì Quảng.
Ở Hội An, mì Quảng được bán khắp nơi, từ các quán ăn ở thành thị đến các hàng quán ở thôn quê, nhưng thú hơn cả vẫn là những quán mì bên các hè phố rêu phong. Du khách xa nay vẫn thích thế, họ không những ngồi thưởng thức những món ăn mà họ còn muốn ngồi trong không gian phố vắng yên tĩnh, ngắm nhìn những ngôi nhà cổ kính, mái ngói âm dương san sát, tạo cho họ một bữa ăn đầy ý vị.
Những quán mì trước đây thường bài trí những chiếc bàn con, ghế đẩu (loại ghế nhỏ, thấp, không có dựa phía sau), trên bàn mấy ống đũa tren đơn sơ, vài lọ nước mắm, dấm chua và đĩa chanh cắt lát. Từ phía sau nồi nước lèo bốc khói, mùi thơm toả ngát, khiến cho ngời ăn nóng lòng muốn nếm thử. Cô bán hàng tự tay lâu tô, cho rau sống, mì vào rồi múc nước nhân chan lên với những lát thịt, con tôm làm cho tô mì thêm phần màu sắc. Ðậu phụng chín rang vàng giã dập được rải lên bân những lát bánh tráng nhỏ chiên giòn. Tô mì được đặt lên bàn, cho tí chanh vào thêm chút tương ớt trộn lên cho thấm đều. Những tô mì ngon đúng khẩu vị thì cũng không thể thiếu chiếc bánh tráng nướng, quả ớt tơi và bắp chuối thái mỏng. Mùi thơm của rau, vị béo của thịt, của dầu, hương thơm của đậu phụng, chất giòn béo của bánh tráng, vị cay của ớt, tất cả những mùi ấy hợp lại toả ra một mùi hương thơm, khoái khẩu lạ thường. Bưng tô mì trên tay, vừa ăn vừa nhấm nháp, người ăn như đang thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật ẩm thực dân dã độc đáo.
Related posts:
Nhận được bánh và lời nhắn của vợ, người chồng hối hận liền tức tốc quay về và không còn nghĩ đến chuyện thay lòng đổi dạ nữa. Từ đó bánh phu thê thường hay có mặt trong các tiệc cưới nhằm nhắn nhủ lời thuỷ chung đến các đôi vợ chồng trẻ.
Bánh susê có màu vàng nhạt, dẻo, vị ngọt và thơm. Bánh cũng được bao bọc bởi một lớp lá chuối giống như bánh ít lá gai. Là một trong những loại đặc sản được bày bán nhiều nơi ở Hội An.
Related posts: